Bố trí hiện trường thi công

Hiện trường ở miệng hầm tương đối chật hẹp, nhưng thiết bị máy móc và nguyên vật liệu thi công hầm lại rất nhiều, vì vậy nếu không có quy hoạch từ trước thật tốt thì rất dễ tạo thành hiện tượng cản trở lẫn nhau, sử dụng bất tiện, hiệu suất không cao và một số hiện tượng bất họp lý khác, thậm chí phát sinh sự cố không an toàn, vì thế, trước lúc thi công cần dụa vào đặc điểm địa hình kết họp vói các nhân tố sẵn có bố trí súc lao động, máy móc thiết bị vật liệu, yêu cầu thòi hạn, phương pháp thi công và vị trí bãi đổ đất đá thải, tiến hành sắp xếp kế hoạch toàn diện, một cách họp lý, làm cho công trình ngăn nắp trật tự và không rối loạn, tạo điều kiện phát huy đầy đủ hiệu năng tối đa của nhân lực vật lục, tạo điều kiện thuận lọi cho thi công vói tốc độ nhanh.
Trong tình hình chung, do địa hình hạn chế khó lòng mà bố trí hiện trường một lúc cho ổn thoả. Khi bố trí có việc thư thả, có việc gấp tuỳ theo tình hình mà mở rộng dần dần và cải thiện từng bước tiến tới hoàn thiện.
Khi bố trí hiện trường, các hạng mục cần cân nhắc kỹ lưỡng. Ở đây chỉ lấy một số hạng mục chính của thi công đường hầm vùng núi để giói thiệu . Cách thức bố trí tóm tắt như sau:
.1. Bố trí bãi thải đất đá và đường vận chuyển đất đá vụn.
Hầm đường bộ hai làn xe ô tô như hầm đường bộ đèo Hải Vân (Thùa Thiên – Huế) mỗi lần tiến lên một mét, bình quân phải đưa ra trên khoảng 102m3 đất đá (khối đặc), vì thế bãi đổ đất đá vụn của công trường đường hầm chiếm diện tích rất lớn và hầm càng dài thì bãi lại càng lớn. Khi cân nhắc diện tích đổ đất đá vụn cần xem xét mấy khả năng sau: dùng để đắp đường, đắp đê, đắp đầu mố cầu, nhưng cự ly vận chuyển không lớn lắm; thuận theo bờ sông, bờ suối nhưng không được lấp hết thung lũng sông và lòng lạch; đắp bằng đất hoang trên sườn núi nhưng không để lũ cuốn xuống lấp mất đất trồng trọt ở hạ lưu; gần miệng hầm có đất đai nông nghiệp tốt nhưng ở chỗ xa có đất hoang, thì cần phải làm đường đi đến chỗ xa đổ; ở gần hầm đèu là đất trồng trọt và khi đổ lên đất đó thì trước tiên cần đào đi một lóp đất trồng trọt cần thiết đô ra một bên, đợi khi đổ đất đả vụn xong, san phẳng và đắp lóp đất trồng trọt trở lại hồi phục canh tác. Tóm lại, xử lý đổ đất đá có hai nguyên tắc: biến phé thải thành vật liệu dùng đê sản xuất để đắp đường, đắp đê đập, đắp đầu mố cầu, hoặc đổ đá vụn rồi phủ đất trồng tạo thành ruộng nương; còn một loại khác là biến hại thành vô hại như khi bắt buộc phải chiếm ruộng nương, thì cần tranh thủ biến bãi đổ đất đá phế thải thành đất trồng trọt tăng thêm diện tích sản xuất cho nông dân. Khi bó trí bãi đổ đất đá phế thải cần phải xem xét ảnh hưởng có hại đối với vùng địa chất xấu (như vùng đất sụt xưa) hoặc đối với công trình khác (như mố cầu, trụ cầu). Đường vận chuyển đổ đất đá cần bố trí hai tuyến đi và vè để tiện cho việc đổ đất đả.
2. BỐ trí kho tàng và bãi đổ vật liệu khối lớn
Bãi để các loại vật liệu khối lớn cần tiện lợi cho việc vận chuyển vào công trường, dễ dàng cho việc bốc dỡ và cần gần địa điểm sử dụng.
1) Bãi cát đá và kho xi măng nên bố trí cùng với trạm trộn bê tông. Bãi để cát đá cần hết sức lợi dụng địa hình, không nhất định phải là bằng, nhưng cần chú ý cung cấp vật liệu thuận tiện. Nếu tại miệng hầm, địa hình quá chật hẹp, thì có thể bó trí bãi cát đá gần đó. Trong kho xi măng cần phân loại để xếp, số lượng đến trước phải dùng trước, vào ra phải thuận tiện đê đảm bảo xi măng không quá hạn, không bị cúng. Ngoài ra, phải đề phòng lũ lụt, phòng ẩm ướt.
2) Kho gỗ và xưởng gia công cần bố trí sát nhau và gần đường ô tô. cần hết sức chú ý phòng hoả. Xí nghiệp gia công đồ gỗ và vật liệu, nhà dễ cháy cần bố trí ở địa điểm cuối gió và giữ một khoảng cách nhất định với các khu nhà cửa khác.
3) Kho sắt thép và các xí nghiệp gia công sắt thép cần bố trí gần nhau để tiện gia công và sử dụng cho công trình.
.3. BỐ nhà xưởng sản xuất
Khi bố trí nhà xưởng sản xuất phải chú ý phòng lũ lụt, phòng va quệt, phòng lún sụt, phòng sập đất.
1) Phòng máy thông gió, phòng máy khí nén cần kề miệng hầm, hết súc rút ngắn chiều dài quản lý để giảm thiểu tổn thất đường óng, nhất là hết sức tránh quá nhiều góc ngoặt.
2) Độ cao bể nước trên núi cần thoả mãn độ chênh cột nước để thoả mãn nhu cầu dùng nước của các mặt đào.
3) Máy trộn vữa hay bê tông cần nằm gần miệng hầm, gần bãi cát đá và phải đặt ở độ cao nhất định để tiện chất lên xe và đưa đi.
4) Thuốc nổ và kíp cần bố trí riêng. Nhà kho cất giữ chúng cần lựa chọn địa điểm khuất kín cách công trường từ 300 m -e- 400 m trở lên, và phải bó trí chóng sét.
5) Vị trí của bãi để cơ giói yêu cầu phải tiện đường vào ra, dùng điện và nước đèu tiện lợi.
6) Phòng máy phát điện không nhất thiết phải gần miệng hầm. Nếu dùng đường dây cao áp từ bên ngoài vào, máy biến thế cần đặt ở lân cận miệng hầm. Khi cự ly tải điện quá dài (vượt quá 1,3 km) điện thế giảm quá lớn, nên không đủ cho máy chạy, hiệu suất thấp, lúc ấy cần xem xét điện cao thế vào hầm, trong hầm bố trí trạm biến thế.
7) Đường tạm thòi của công trường nên lợi dụng đường sẵn có. Đường chính của công trường thường bố trí thành hình vòng tròn, đường thứ yếu có thế bố trí thành nhánh, nhưng cần xem xét bố trí chỗ quay đầu xe.
Chiều rộng mặt đường hai làn xe nói chung là 6m, một làn xe giảm xuống 3,5m.
8) Công trình hành chính quản lý và phúc lợi sinh hoạt cần tiện lợi cho sản xuất và sinh hoạt của công nhân. Văn phòng làm việc và trạm y tế của công trường cần gần vói hiện trường
thi công. Văn phòng làm việc có thể gần miệng ra, miệng vào của công trường. Công trình phúc lợi sinh hoạt trước tiên cần cân nhắc lợi dụng nhà cửa vĩnh cửu, thuê mướn của dân, khi thiếu mới xây dựng lán tạm.
4. Bố trí nhà ở sinh hoạt
Khi điều kiện sinh hoạt cho phép, nhà ở sinh hoạt phải cách miệng hầm một cự ly nhất định, đê bảo đảm cho công nhân và nhân viên công tác một môi trường nghỉ ngoi, yên tĩnh, nhưng không nên quá xa, đồng thời phải chú ý đi làm tiện lợi. Toàn bộ khu sinh hoạt phải tập trung thích đáng để tiện cho quản lý và học tập. cần bố trí thoả đáng bố trí sân hoạt động văn thể ngoài trời, khu sinh hoạt ở gần nguồn nước, trong phạm vi bốn phía 50m không được bố trí khu vệ sinh, chuồng gia súc và hố rác. Vị trí khu sinh hoạt phải đặc biệt chú ý chống lũ lụt.
Tóm tại, đièu kiện tự nhiên của mỗi công trường đường hầm rất phong phú, mỗi nơi một khác. Vì thế, khi cân nhắc bố trí công trường đường hầm, cần dựa vào điều kiện địa phương, phân tích tình hình cụ thể mà bố trí cho linh hoạt. Ngoài ra, cần chú ý làm tốt bảo vệ môi trường.
Phương châm bố trí địa điểm địa điểm công trường phải quán triệt: “Chiếm núi không chiếm đất, chiếm đất không chiếm ruộng, mở đường đi để tạo ruộng” quan tâm đặc biệt đến nông nghiệp. Tỷ lệ vẽ bản đồ bố trí mặt bằng công trường tuỳ theo diện tích lớn hay nhỏ mà quy định, thông thường là 1:200 -r 1:1000. Hình vẽ 9.2 là một ví dụ thực tế về bố trí hiện trường thi công của một công trường đường hầm.

Hình 9.2. Ví dụ thục tế bố trí hiện trường thi công đường hầm
1. Phòng máy khí nén; 2. Phòng máy rèn choòng; 3. Phòng máy thông gió; 4. Phòng bổ sung điện; 5. Máy trộn; 6. Gian máy sửa chữa và phân phối; 7. Phòng máy mộc; 8. Lán máy bơm nước; 9. Bê’ nước; 10. Phòng máy phát điện; 11. Kho xi măng; 12. Kho vật liệu, 13. Kho thuốc nổ, kho kíp; 14. Trạm cung ứng; 15. Khu vệ sinh; 16. Văn phòng làm việc; 17. Phòng khách; 18. Khu nhà ở; 19. Nhà ăn và câu lạc bộ; 20. Phòng phân phối điện; 21. Trạm biến thế.

Như trên đã giói thiệu một phương án bố trí hiện trường thi công của một đường hầm vùng núi. Đối với hiện trường thi công bằng phương pháp khác thì phải bố trí hiện trường theo cách khác. Như thi công bằng phương pháp khiên, do bố trí hiện trường lắp ráp khiên, chế tạo phiến ống hầm, hệ thống đưa đất đá và bùn nước ra đều liên quan đến vị trí của giếng đứng. Đối với đường hầm thi công bằng phương pháp hạ chìm thì vị trí của đảo khô là vấn đề chủ yếu chủ yếu của bố trí hiện trường, ngoài ra còn phải cân nhắc cách lựa lòng lạch vận chuyển nổi đoạn hầm cũng như phương thúc đúc sẵn đoạn hầm.