Cấu tạo cơ bản của máy đào mui trần

I. Máy chính
1. Cấu tạo cơ bản
Máy đào mui trần được chế tạo hiện nay trên thế giới cơ bản có hai loại: loại một hệ chống và loại hai hệ chống.
Máy đào một hệ chống ngang như hình 3.3 thể hiện. Dầm chí ìh và giá đỡ mâm dao lớn là giá kết cấu của máy đào, tất cả các cấu kiện khác đều được lắp trên giá đó. Bộ phận trước của giá đỡ mâm dao được lắp vòng bi chính và vành răng lớn ở bên trong, bốn phía vành răng lắp khiên bảo vệ mâm dao, lợi dụng khiên chống có thể điều chỉnh được, khiên bên và hệ chống được ở tư thế chống hờ vào mặt đào của hầm, do đó bảo đảm sự ổn định của mâm dao chính. Do dùng một cặp hệ che chống nằm ngang, vì thế trong quá trình đào tiến lên của máy, việc điều chỉnh phương hướng được tiến hành kịp thời và quỹ tích đường đi của máy là hình vòng tròn, vòng bi chính của máy đào kiểu một hệ chống phần lớn là tổ họp ba vòng bi, thiết bị điều khiển được trực tiếp lắp tại phía sau của mâm dao, cho nên đầu máy khá nặng, khiên bảo vệ mâm dao tương đối dài.
Hệ thống máy đào MB của Công ty Mỹ đã chế tạo hơn 140 cỗ máy kiểu như trên, chiều dài đào hầm đã vượt quá 1.900 km.

Hình 3.4. Sơ đồ máy đào với một hệ chống nằm ngang.
1- Mâm dao; 2- Khiên bảo vệ trên đầu; 3- Bộ phận điều khiển; 4- Dầm chính; 5- Máy đưa đất đá ra; 6- Hệ chống dưới phía sau; 7- Chân chống; 8- Kích đây lên; 9- Khiên bảo vệ bên; 10- Hệ chống phía dưới; 11- Hệ chóng mâm dao.

Máy đào với hai hệ chống nằm ngang như hình 3.5 đã thể hiện. Ở phía giữa máy chính có hai cặp thanh chống nằm ngang, hệ chống này có thể di động trước, sau theo giá máy chính trên đó có hàn miếng đồng để trượt. Phần đầu của giả máy chính liên kết với mâm dao lớn, ổ bi, vòng răng trong phần sau liên kết với hệ chống dưới ở đuôi, kích đẩy dựa vào hệ chống nằm ngang đẩy giá máy chính và mâm dao lớn tiến lên phía trước, thiết bị điều khiển được bố tri đằng sau hệ chống nằm ngang thông qua trục chuyền động chuyền mômen xoắn đến mâm dao lớn. Trong quá trình đào hầm, hai cặp thanh chống tỳ chặt vào vách hầm, vì thế phương hướng đào đã được định vị, chỉ có thể đào theo đường thẳng. Chỉ khi định vị lại máy mới có thể điều chỉnh phương hướng, quỹ tích đào của máy khi đó mới là đường gãy. Máy đào do hãng WIRTH của Đức chế tạo thuộc vào loại này.

Cấu tạo cơ bản của máy đào mui trần 1
Hình 3.5. Sơ đồ máy đào hai hệ chống nằm ngang.
1- Mâm dao; 2— Khiên bảo vệ trên đầu; 3- vỏ ngoài của vòng bi; 4, 5- Hệ chóng nằm ngang (trước, sau); 6- Hộp bánh răng; 7- Máy đưa đất đá ra; 8- Máy điện khởi động;
9—Hộp biến tốc hình sao; 10—Hệ chống dưới ở phía sau; 11—Ong mômen uôn; 12-Kích đẩy; 13- Giá máy chỉnh; 14- Tấm treo ở vòm đáy (hệ chống.duới ở phía trước).

Kêt họp với ihực tiễn công trình, người ta đã thu được nhiều kinh nghiệm phong phú trong thi công máy đào mui trân. Máy đào mui trần không ngừng được cải tiến và phát triển. Ví như cặp chống ngang được cải tiến thành hệ thống chữ X, cũng có nơi người ta tổ hợp ba vòng bi của mâm dao lớn thành hai tổ vòng bi đơn giản trước và sau.
2. Quá trình tuân hoàn thao tác thi công của máy đào mui trần.

Cấu tạo cơ bản của máy đào mui trần 1

Hình 3.6. là sơ dồ quá trình tuần hoàn thao tác thi công của máy đào mui trần. Từ hình vẽ ta thấy rằng:

a. Khi bắt đầu tuần hoàn đào khi hệ chống nằm ngang đã di chuyển đến bộ phận trước của giá máy chính đem chân chống tỳ chặt vào vách hầm, tấm treo ở vòm đáy tiếp xúc nhè nhẹ vào mặt đá ở vòm đáy, rút hệ chống dưới ở đằng sau lên. Khi đó mâm dao lớn có thể chuyển động, các kích đẩy thúc mâm dao đang chuyến động tiến lên một hành trình, đó là trạng thái đào của máy.
b. Khi máy được đẩy lên phía trước, đạt đến điểm cuối cùng của hành trình đẩy của kích, khi đó két thúc đào, mâm dao lớn ngừng chuyên động, hạ hệ chống dưới phía sau xuống, đồng thời lúc ấy tấm treo ở vòm đáy chống đỡ mâm dao lớn, như vậy trọng lượng toàn bộ của máy sẽ do hệ chống trước và sau chống đỡ.
c. Nới lỏng hai cặp chân chống nằm ngang, di chuyển hệ chống nằm ngang đến đoạn trước của giá máy chính. Điều chỉnh phương hướng tiến lên của máy có thể thông qua hệ chống dưới phía sau để tiến hành điều chỉnh hướng ngang hay thẳng đứng để đạt yêu cầu mong muốn.
d. Sau khi hệ chống ngang đã dời đến vị trí đoạn trước, người ta lại xiết chặt chân chống vào vách hầm. Lúc ấy, rút hệ chống dưới phía sau lên, tấm treo trên vòm đáy lại ở trạng thái tiếp xúc hờ hững với vòm đáy. Như vậy máy đào lại chuẩn bị tiến hành một tuần hoàn tiếp theo.
1. Đào

Hình 3.6b. Sơ đồ tuần hoàn đào của máy mui trần

3. Mâm dao lớn (hình 3.7)

Hình 3.7. Sơ đồ mâm dao lớn
1- Gầu xúc; 2- Dao trung tâm; 3- Dao cạnh mở rộng lỗ; 4- Bộ phận gạt vụn đất đá mở rộng lỗ; 5- Dao bề mặt; 6- Răng xúc; 7- Dao biên

Mâm dao là một bộ phận kết cấu thép hàn, phía trước của mâm được gia cố hai lớp, được nối với tấm ngăn đằng sau thông qua máng đón vụn đất đá, tấm ngăn đằng sau mâm dao được nối chặt vào vòng bi mâm dao bằng một hệ thống bu lông. Trên mâm được lắp một số hộp lưỡi dao quay để dập nát và cắt gọt đất đả, đồng thời còn lắp các gầu dày gọt đất đá vụn theo hướng đường kính dùng để đào đất đá mềm.Đế lắp dao là một bộ phận của mâm dao được chế tạo hình lõm để cho mâm dao thò hẳn ra ngoài. Như vậy có thể đè phòng được các cục đá lớn trong đá vỡ ra làm kẹt mâm dao. Mâm dao lớn có đầy đủ độ cứng và cường độ. Cái đó làm cho lực đẩy trên mâm dao được phân phối đồng đèu trên toàn bộ các dao quay hình mâm, làm cho chúng luôn luôn đồng thòi ép dập vào đá để đạt được độ sâu đồng nhất, và làm cho máy đào nằm trong trạng thái quay vòng vói hiệu suất cao. Nếu không như vậy thì không thê hoàn thành tốt nhiệm vụ cắt gọt, mà còn làm cho lực đẩy trên một số cá biệt hộp dao bị quá tải, phát sinh hư hỏng quá sớm, làm cho độ mài mòn của cả mâm dao tăng lên rất nhanh. Bố trí mặt bằng của các hộp dao trên mâm dao lớn phải căn cứ vào loại hình của hộp dao sử dụng và khoảng cách giữa các dao để cân nhắc, bình thường mà nói, trong đá cứng, khoảng cách các 
dao nên khoảng 10 đến 20 lần độ xuyên (tức là độ sâu mà hộp dao xuyên vào đất đá khi -§ máy quay một vòng) có nghĩa là khoảng %
65mm -í- 90mm. Trong điều kiện khoảng – cách các dao nhất định, đường kính mâm dao lớn (tức là đường kính hầm đào) có quan hệ với số lượng hộp dao có thể được kiểm tra bằng hình vẽ 3.8. Đất đá được đào ra nhờ một số gầu lắp xung quanh hộp dao và máy gạt đất đá cùng với các miệng đón đất đá vụn bố trí trên mặt mâm dao theo hướng đường kính, qua các tấm hướng dẫn trong lòng mâm dao, đất đá vụn sẽ đi qua các phễu chuyền đến máy băng tải bằng cao su.