Che chống lần hai ( P1)

Vỏ xây vĩnh cửu thường dùng cho đường hầm và công trình ngầm có 3 loại: loại vỏ đổ toàn khối, loại vỏ nhiều lóp và loại vỏ phun neo.
Vỏ nhiều lóp là loại vỏ do che chắn lần đầu và che chắn lần hai tổ họp lại. Che chống lần đầu giúp vi nham đạt được sự ổn định sơ bộ trong thời gian thi công, trái lại che chống làn hai cung cấp lượng dự trữ an toàn hoặc chịu áp lực vi nham trong thời kỳ về sau. vì thế, khi che chống lần đầu phải thiết kế chủ yếu dựa theo kết cấu chịu tải. Khi che chống lần hai trong vi nham loại IV trở lên phải thiết kế dựa theo dự trữ an toàn, khi vi nham ở loại III trở xuống thiết kế theo kết cấu chịu tải (áp lực vi nham thời kỳ về sau) và đèu phải thỏa mãn yêu cầu cấu tạo.
Thiết kế ở phun neo về cơ bản tương tự với thiết kế của hệ che chống ban đầu trong vỏ nhiều lóp chỉ khác là phải tăng thêm một lượng dự trữ an toàn nhất định. Thiết kế này chủ yếu thích hợp với điều kiện vi nham loại IV trở lên.Trong quy phạm thiết ké hầm đường bộ sẽ cung cấp các tham số thiết kế vỏ phun neo. Phương pháp thi công của vỏ hầm phun neo về cơ bản cũng giống thi công che chắn lần đầu.
Thiết kế và thi công vỏ hầm toàn khối so với vỏ hầm nhiều lớp có chỗ khác nhau. Chi tiét xem trong phần thi công theo phương pháp mỏ truyền thống (phần 2.10 của chương này).
Đối với che chóng lần hai cung cấp lượng dự trữ an toàn nên thi công sau khi vi nham đã ổn định hoặc vi nham cộng với lóp che chống lần đầu đã ổn định, vì hệ che chống lần hai cũng yêu cầu chịu tải, nên phải thi công kịp thời.
Việc lụa chọn phương pháp thi công và loại cốp pha của hệ che chống lần hai, cần xem xét đầy đủ cho thích họp với điều kiện vi nham, phương pháp đào, phương pháp che chống, năng lực thi công bê tông v.v…

1. Phương pháp thi công che chống lần hai
Theo lí luận che chống hiện đại và nguyên tắc thi công theo phương pháp Áo mới, che chống lần hai tạo dự trữ an toàn nên cần thi công khi vi nham hoặc vi nham cộng với che chống đã ổn định, lúc ấy đường hầm đã hình thành, do vậy che chống lần thứ hai phần lớn dùng phương pháp thuận, có nghĩa là đổ bê tông từ dưới lên trên, đổ bê tông tường trước, vòm sau theo thứ tự như vậy một cách liên tục. Theo hướng dọc đường hầm thì cần chia đoạn để tiến hành, chiều dài mỗi đoạn thường là 9m -ỉ- 12m.
Che chống lần hai phần lớn dùng cách ghép cốp pha đổ bê tông làm vỏ trong của hầm.
Che chống lần hai thi công theo phương pháp thuận bằng cách ghép cốp pha đổ bê tông. Cần trang bị năng lực sản xùất bê tông liên tục và đầy đủ cũng như cốp pha đưa vào lắp ráp tiện lợi. Trình tự thi công đơn giản, tính toàn khối và điều kiện chịu lực của vỏ khá tốt.
2.  Các loại cốp pha
Các loại cốp pha thường dùng có: xe chở cốp pha toàn khói di động, xe chở cốp pha tháo lắp di động, cốp pha bằng giá vòm lắp ráp.
1. Xe chở cốp pha toàn khối di động
Xe chở cốp pha toàn khối di động thích họp với thi công vỏ đường hầm đào toàn mặt cắt, hoặc đào bằng mặt cắt lớn. Xe dùng cốp pha cong tấm lớn, tháo cốp pha bằng cơ giới hoặc bằng thủy lực, sau lưng có thiết bị đầm bê tông lắp lại thành khối, chạy trên ray, có loại được lắp thiết bị tự hành. Do đó rút ngắn thời gian dựng ghép cốp pha, vòm và tường được đô bê tong hên tục, tăng nhanh tốc độ thi công vỏ hầm (hình 2.70)

Che chống lần hai ( P1) 1
Hình 2.70. Xe cốp pha toàn khối di động.

Chiều dài của xe bằng chiều dài một đoạn đổ bê tông, cần căn cứ vào các điều kiện: yêu cầu tiến độ thi công, năng lực sản xuất bê tông và yêu cầu kỹ thuật đổ cũng như bán kính dường cong hầm… để xác định. Loại xe cốp pha này có năng lực sản xuất lớn, có thê phối hợp với hoạt động của bơm đẩy là một loại thiết bị cốp pha khá tiên tiến. Nhưng kích thước của xe lớn nhỏ khá cố định, phạm vi điều xe nhỏ, ảnh hưởng đến tính thích dụng của xe, vả lại đầu tư tương đối lớn. Ở Trung Quốc có một số đơn vị đã tự chế tạo loại xe cốp pha tương đối đơn giản hơn, hiệu quả cũng rất tốt.