Che chống lần hai ( P3)

Thoát nước đường hầm
Nước không chỉ là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến thi công bình thường của đường hầm mà còn là một trong những nhân tố trọng yếu ảnh hưởng đến vận doanh bình thường của đường hầm.
Trong thời gian thi công, tác dụng của nước ngầm không chỉ hạ thấp độ ổn định của vi nham (nhất là đối với vi nham vụn nát mèm yéu thì ảnh hưởng của nó càng nghiêm trọng) làm cho việc đào gặp rất nhiều khó khăn, làm tăng khó khăn và tốn kém cho việc chống đỡ, thậm chí phải che chống vượt lên trước hoặc phun vữa trước để bịt nước và gia cố vi nham. Ngoài ra, nếu xử lý đối với nước ngầm không thỏa đáng, thì có thê tạo thành mối nguy hại càng lớn. Như mực nước ngầm, mực nước trên mặt bị hạ thấp, môi trường nước bị thay đổi, ảnh hướng sản xuất nông nghiệp và thiếu nước sinh hoạt; hoặc bị bắt buộc ngừng thi công, ảnh hương tiến độ công trình v.v…
Trong thời kỳ vận doanh, mức nước ngầm thường từ các khe thi công bê tông vỏ ham, khe biến dạng (khe co duỗi và khe lún), vết nứt, thậm chí từ các khe hở trong bê tông và một số đường thông khác thấm chui vào hầm. Các thiết bị thông tin, cung cấp điện, chiếu sáng do đó bị ẩm ướt bị gỉ, bị ăn mòn và hư hỏng ảnh hưởng đến an toàn trong thời kỳ vận doanh. Nói tóm lại trong công trình đường hầm việc tồn tại nước ngầm là điều tất nhiên, song điều nguy hại của nó đối với công trình có thể tránh đươc và giảm thiểu được.
Đê tránh và giảm thiểu mối nguy hại của nước, nguyên tắc tổng họp trị thủy sau đày đã được tổng kếtí‘ngăn, bịt, thoát cùng kết hop” và lấy việc đúc vỏ hầm bằng bê tông làm biện pháp cơ bản đê phòng nước (bịt nước).
Ngàn túc là khơi thông, chặn dòng nước trẽn mặt cũng như nước ngầm từ ngoài đường hầm không cho chúng chảy vào trong phạm vi công trình đường hầm.
Bịt, tức là biện pháp phòng nước lấy bê tông bỏ làm lóp phòng nước cơ bản, lấy vật liệu phòng nưóc khac làm vật liệu phòng nước phụ, ngăn cách nước ngầm không thể đi vào trong đường hằm, khi cần thiết còn có thể dùng biện pháp phun vừa bịt nước. Biện pháp bịt nước có thê bảo vệ môi trường nước khá tốt.
Thoát, túc là bố trí hệ thống thoát nước để nước ngầm chảy ra khỏi đường hầm.
Kết hợp tức là lựa chọn phương án thích đáng dựa vào điều kiện địa phương, tổng hợp cân nhắc kỹ thuật tốt nhất, tiết kiệm kinh phí, hiệu quả mĩ mãn, bảo vệ môi trường. Muốn làm được việc ấy phải nghiên cứu đièu kiện địa chất công trình, vi nham, nguồn nước ngầm lớn hay nhỏ, điều kiện phát xuất, yêu cầu thiết ké sử dụng của thiết ké công trình, trình độ kỹ thuật thi công và yêu cầu báo vệ môi trường, tổng họp lại để xác định biện pháp cần chọn. Kết họp còn có nghĩa là thiết ké thi công, tu sửa cùng két hợp, nhưng lấy thi công làm chính, kết hợp đầy đủ với thực tế hiện trường, thực hành điểm diện kết hợp, gom nước từ diện tích lớn tập trung vào một khu vực nhỏ, tiến hành thoát nước một cách có tô chức. Trong khi thi công tìm mọi cách trị thủy tốt, bảo vệ môi trường tự nhiên nước ngầm, nước mặt, giảm thiểu phá hoại đối với môi trường nước và hết sức khôi phục môi trường tự nhiên cúa nước.
Dựa vào nguyên tắc nói trên, xin giới thiệu một số phương pháp trị thủy thường dùng như sau:
I. Biện pháp ngăn nước
Biện pháp ngăn nước, gồm có: bố trí rãnh đỉnh chặn nước lái dòng ra ngoài; bố trí hầm thoát nước ở thượng du vùng nước ngầm hoặc bố trí các giếng kim hạ nước ngầm ở ngoài hầm (hình 2-73).
Ví dụ: Một đường hầm sau 10 năm vận doanh, bị mối nguy hại của nước ngầm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chạy tầu sau khi đã thiết kế thi côm, hầm thoát nước ở thượng du mới chấm dứt được nước ngầm phá hoại.
Rãnh lái dòng nước và hầm thoát nước sau khi hoàn thành có thể phát huy hiệu quả lâu dài, nhưng giếng kim ngoài hầm thì phải dùng bơm hút nước, vì thế chỉ giải quyết được hạ nước ngầm trong thời gian thi công các đường hầm nông. Khi đuờng hầm nằm dưới sâu, có 
thể bố trí giếng kim đê giải quyết vấn đề hạ nước ngầm ở các đoạn cục bộ trong hầm. Ngoài ra các đường hào bô’ trợ như: hào dẫn song song, hào ngang, giếng nghiêng, giếng đứng đều có thê dùng làm hào thoát nước.
Hình 2.73. Biện pháp chặn nước
2. Biện pháp bịt nước
Biện pháp bịt nước, gồm có: phun bê tông bịt nước, tấm chất dẻo bịt nước, vỏ hầm bê tông bịt nước. Khi lượng nước lớn, áp lực cũng lớn thì có thê phun vữa bịt nước. Phun vữa vừa có thê bịt nước vừa có tác dụng gia cố vi nham, cần chú ý rằng, tuyệt đối bị được nước ngầm là rất khó khăn, vì thé trong thiết kế và thi công bịt nước phải hết sức chú ý tổ chức thoát nước, phải kết họp bịt và thoát nước, vừa bịt vừa thoát.
(1) Phun bẽ tông bịt nước: khi vi nham có diện tích khe hở thấm nước lớn và lượng nước cùng áp lực đều bé, có thể kết họp với che chống lần đầu phun bê tông bịt nước. Nhưng cần chú ý lúc ấy phải tăng nhiều chất ninh kết nhanh, tiến hành phun liên tục, nhưng chỗ khe hở lớn chính không phun bê tông, để dòng nước có thể tập trung vào khe hở chính chảy vào rãnh ngầm và qua rãnh ngầm thóat ra. Rãnh ngầm sẽ giới thiệu ở phần sau.
(2) Tấm chất dẻo bịt nước
Khi vi nham có diện tích khe hở ngấn nước lớn, và lượng nước cũng như áp lực không
lớn lắm, có thể dùng phun bê tông che chống lần đầu sau khi thi công xong, trước lúc thi công che chống lần hai, cần phủ một tấm chất dẻo bịt nước vào, trên vách có diện tích lớn dó.
Tầng phòng nước bằng tấm chất dẻo là một loại kỹ thuật phòng nước mới được phát triển trên trường quốc tế trên hai mươi năm lại đây, nó có tính phòng nước tốt, tính năng chông mục nát tốt. Trong hầm và công trình ngầm nó đã được ứng dụng ngày càng rộng rãi.
Khi lát và cố định tấm chất dẻo không nên căng quá chặt, cần để lại một mức lỏng nhất định để khi đổ bê tông che chống lần hai tấm chất dẻo có thể bịt các chỗ lồi lõm và dán chặt không phát sinh kéo căng quá mức hoặc bị phá hoại.