Che chống lần hai ( P4)

(1) Đô bê tông vỏ hầm bịt nước
Bản thân bê tông vỏ hầm đã có tính năng chống thấm nhất định nhưng bê tông phô thông có tính chống thấm tương đối kém, nhất là trong tình hình không bảo dảm chất lượng thi công như: đầm nén không chặt không chắc, xử lí mối nối thi công, khe lún, khe co giãn, cấp phối bê tông không tốt thì dễ hình thành nước rò hoặc chảy tràn lan. Khi nước ngầm có tính xâm thực thì bê tông bị ăn mòn càng trở nên nghiêm trọng.
Nếu có thể bảo đảm được tính năng phòng nước của vỏ hầm bằng bê tông thì không cần thêm biện pháp phòng nước khác nào nữa. vì thế, lợi dụng đầy dủ tính phòng nước của vỏ hầm bê tông là biện pháp phòng nước kinh tế nhất và cơ bản nhất.
Trong công trình, cải thiện và lợi dụng tính năng phòng nước của vỏ hầm bê tông, có thể
xem xét về hai mặt:
Thứ nhất: mác và cường độ bê tông chống thấm cần thỏa mãn yêu cầu thiết ké. Tỉ lệ trộn bê tông phải chú ý mấy điểm sau: Tỉ lệ nước xi măng không được lớn hơn 0,61; Lượng xi măng phải dùng không được nhỏ hơn 280kg/m3; Tỉ lệ cát cần thích đáng và không được thấp hơn 35%.
Thứ hai; thi công bê tông vỏ hầm phải đầm bằng máy. Khe thi công, khe lún và khe co duỗi phải dùng chất dẻo chôn vào trong hoặc có dải keo ngăn nước hoặc dải chất dẻo dán vào lưng vỏ đê ngăn nước.
(2) Phun vữa bịt nước
Như trên đã giới thiệu về ống dẫn nhỏ phun vữa và phun vữa tạo màn vây để gia cố vi nham. Phun vữa đồng thời gia cố vi nham, trên thực tế cũng có tác dụng bịt nước. Trong thi công hầm cần cân nhắc lựa chọn biện pháp để chúng cùng hỗ trợ lẫn nhau, tương quan với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau.
Ngoài ra, nếu chất lượng bê tông che chắn làn hai không đạt yêu cầu thì sẽ phát sinh thấm nước, thì lại phải phun vữa bịt nước.

Như trên.đã nói, thoát nước và bịt nước kết hợp với nhau rất mật thiết. Trong thòi gian thi công chỉ nghĩ đến bịt mà không nghĩ đến thoát co thè gây nguy hại hoặc bất tiện càng lớn cho thi công. Vì thê luôn nghĩ cách tạo cho nước một đường thoát là điều tất yếu, đương nhiên đường thoát đó phải có tổ chúc.
Thông thường, kết cấu thoát nước có: rãnh ngầm, hố thoát nước, rãnh thoát nước. Trong thời gian thi công cần nghĩ cách thoát nước. Thoát nước thi công cần kết hợp với kết cấu thoát nước.
(1) Thoát nước thi công
Thoát nước thi công bao gồm hai bộ phận: Thoát nước trong hầm và thoát nước ngoài hàm.
a- Thoát nước ngoài hầm
Chủ yéu là chống lũ tốt và bố trí thoát nước tót cho miệng hầm đề phòng mùa mưa đến nước lũ trên mặt đất chảy vào trong hầm. Đối với giếng nghiêng và giếng đứng thì cũng cần hét súc chú ý đén vấn đề này. Thứ đến dùng đất sét lấp chặt các đất trũng, các ngòi tiếp sức cho nước ngầm và thiết kế rãnh chắn nước đưa dòng thoát ra chỗ khác.
b- Thoát nước trong hầm
Nguồn nước trong hầm có từ nước ngầm và nước dùng cho thi công. Nước dùng cho thi công phải qua xử lý làm trong và sạch theo luật bâo vệ môi trường mới cho thoát ra sông suối.
Phương pháp thoát nước trong hầm, dựa vào tình hình độ dốc tuyến đường và có thể chia làm hai loại:
– Thoát nước theo dốc: Độ dốc thiết kế không nhỏ hơn 0,5% hướng ra miệng hầm, bên cạnh hầm đào một rãnh dọc thoát nước. Nước có thể thuận theo dóc chảy ra miệng hầm. Khi lợi dụng hào dẫn song song đê thoát nước thì nên thấp hơn đáy hầm 0,2m -ỉ- 0,6m, đê cho các đường thônơ ngang cũng có được một độ dóc lợi cho thoát nước.
– Thoát nước ngược dốc: Trường hợp nay phải dốc vào hầm, nước sẽ tập trung vào mặt đào nên cần phải dùng bơm thoát nước. Thoát nước ngược dốc có hai phương thức:
Một là phân đoạn đào rãnh bên ngược dóc, mỗi đoạn rãnh bên lại đào một hố ga trữ

Che chống lần hai ( P4) 1
Hình 2.74. MỘI trong những phưong thức thoát nước ngược dốc

 Khoảng cách giữa các hố ga gom nước L được tính theo công thúc sau:
L = —(m)
is + i
Trong đó: h- Độ sâu tối đa phải đào của rãnh, nói chung không quá 0,70m; i5- Độ dốc tuyến đường; i- Độ dốc đáy rãnh, không nhỏ hơn 0,3%
Ưu điểm của phương thức này là mặt đào không bị đọng nước, vị trí máy bơm cố định, không cần ống dẫn. Khuyết điểm là phải dùng nhiều máy bơm và lại phải đào rãnh ngược dốc. Nói chung chỉ dùng ở chỗ đường hầm ngắn, độ dốc tuyến tương đối nhỏ.
Ngoài ra, một cách khác là đào một hố ga tập trung nước ở khoảng cách dài hơn. Nước đọng lại ở mặt đào, sau đó dùng bơm nhỏ hút đưa vào hó tập trung nước gần nhất, rồi dùng bơm to hút đưa nước ra ngoài hầm (hình 2.75).

Ưu điểm của cách thoát nước này là yêu cầu ít máy bơm, nhưng lại cần nhiều ống dẫn nước, máy bơm lại phải tháo dỡ đế chuyên lên trước để theo kịp mặt đào. Phương án này thích dựng khi đường hầm dài, lượng nước bài tiết ra nhiều. Điều cần chú ý là khi thi công đường hầm xuống dốc cần chuẩn bị đầy đủ máy bơm (cần cộ thêm một số bơm dự trữ thích đáng).
Khi cần thiết phải khoan lỗ thăm dò nước, đề phòng đột nhiên gặp túi nước ngầm hoặc suối ngầm gây sự cố ngập hầm (như ở hầm đường bộ đèo Hải Vân đã xảy ra sự cố ngập hầm vào giữa năm 2002).