Cơ cấu dân cư theo lao động xã hội ở đô thị

Dân cư thành phố bao gồm 2 loại là nhân khẩu lao động và nhân khẩu lệ thuộc. Nhân khẩu lao động thường được phân biệt ra thành 2 loại .
* Nhân khẩu cơ bản : bao gồm những người lao động ở các cơ sở sản xuất mang tính chất cấu tạo nên thành phố như cán bộ công nhân viên các cơ sở sản xuất công nghiệp, kho tàng, các cơ quan hành chính, kinh tế, văn hoá, xã hội và các viện nghiên cứu, đào tạo v.v…
* Nhân khẩu phục vụ : là lao động thuộc các cơ quan xí nghiệp và các cơ sở mang tính chất phục vụ riêng cho thành phố.
Cả 2 loại thực sự là lực lượng lao động chính của thành phố.
* Nhân khẩu lệ thuộc : là những người không tham gia lao động, ngoài tuổi lao động : người già, trẻ em dưới 18 tuổi và những người tàn tật trong lứa tuổi lao động. Tỉ lệ nhân khẩu lệ thuộc tương đối ổn định, không phụ thuộc vào quy mô tính chất của thành phố. Thông thường ở các thành phố mới, tĩ lệ nhân khẩu
lệ thuộc ít hơn so với các thành phố phát triển. Nhân khẩu lệ thuộc thường chiếm tì lệ trên dưới 50% (khoảng từ 45 đến 53%).
Việc phân loại này được sử dụng để xác định quy mô dân số thành phố ở nhiều nước trên thế giới thông qua con đường thống kê, dự báo và cân bằng lao động xã hội.
Những năm gần đây trong các chiến lược phát triển đô thị và dự báo dân số đô thị, cơ cấu dân cư theo lao động được tính toán theo 3 Sector tức là 3 khối lao động : nông nghiệp, công nghiệp, khoa học và dịch vụ như định luật và biểu đồ của Fourastier đã nêu ở chương II. Dự báo này chỉ có giá trị để phân tích sự diễn biến của các thành phần lao động ở đô thị qua các giai đoạn phát triển kinh tế xá hội, nhằm có được những giải pháp về tổ chức không gian và tổ chức cuộc sống đô thị thích hợp trong quá trình phát triển.
Nghiên cứu thành phần dân cư đô thị là một vấn đề phức tạp, vì nó luôn luôn biến động. Đây là một hiện tượng tất yếu xảy ra trong quá trình hình thành và phát triển đô thị. Việc nghiên cứu hiện tượng xã hội và đánh giá đúng sự diễn biến dân số về tất cả các mặt tạo tiền đề vững chắc cho việc Quy hoạch Xây dựng quy hoạch xây dựng phát triển đô thị một cách hợp lí.
 Tính toán quy mô dân số đô thị
Dân số đô thị ngày càng phát triển. Nhịp độ tăng dân số đô thị nhanh hay chậm là do tốc độ phát triển của đô thị và các động lực phát triển đô thị mạnh hay yếu.
Các quy luật tăng trưởng dân số đô thị bao gồm :
a. Tăng tự nhiên
Tỉ lệ tăng trưởng phụ thuộc vào đặc điểm sinh lí học của các nhóm dân số. Tỉ lệ tăng mang tính quy luật và phát triển theo quán tính. Mức tăng giảm đều rút ra trên cơ sở phân tích các chuỗi số liệu điều tra trong quá khứ gần.
Dự tính dân số đô thị tương lai dựa theo tỉ lệ tăng tự nhiên trung bình hàng năm của đô thị đó theo công thức :
pt = p0 (1 +a) t
Trong đó : Pt : Dân số năm dự báo a : Hệ số tăng trưởng % t : Năm dự báo Pn : Dân số năm điều tra
b. Tăng cơ học :
Bao gồm quy luật tăng giảm bình thường cùng với các luồng dịch cư và tỉ lệ dịch cư có thể rút ra được. Ỏ nước ta ti lệ đó thường chiếm 6 -ỉ- 9 % một năm nhưng cũng có nhiều đô thị có tỉ lệ tăng cơ học đột biến do sự phát triển đột biến của các cơ sở kinh tế. Phương pháp tăng cơ học được tính toán chủ yếu nhờ những dự báo và thống kê về sự phát triển của các cơ sở kinh tế và sản xuất ở đô thị trong một giai đoạn nhất định nào đó. Phương pháp này còn được gọi là phương pháp tính toán theo cân bằng lao động thông qua các chì tiêu về nhân lực đối với các cơ sở sản xuất và dịch vụ để xác định thành phần nhân khẩu cơ bản và tỉ lệ nhân khẩu phục vụ. Trên cơ sở đó có thể tính toán như sau :

c. Phương pháp lập biểu đồ :
Là phương pháp mô tả sự phát triển và tình hình tăng trưởng dân số của đô thị qua nhiều năm bằng biểu đồ. Từ biểu đồ đã có ta có thể kéo dài đường biểu diễn đến thời điểm dự kiến để có được dự báo dân số ở thời gian cần biết. Phương pháp này không có đầy đủ các cơ sở dữ liệu để tính toán, vì vậy nó có độ chính xác không cao.
d. Phương pháp dự báo lông hợp :
Sự tăng trưởng dân số đô thị là sự tổng hợp tăng trưởng của nhiều thành phần khác nhau bao gồm tăng tự nhiên, tăng cơ học, tăng hỗn hợp và tăng của nhiều thành phần khác nữa do đó quy mô tăng trưởng dân số đô thị là tổng của sự tăng trưởng các thành phần nêu trên. Trong trường hợp đơn giản có thể tính toán theo công thức sau :

. Xác định quy mô hợp lí cùa một đô thị
Quy mô hợp lí của một đô thị từ lâu là mối quan tâm của các nhà chuyên môn. Thực tế của sự phát triển đô thị thế giới cho thấy rằng quy mô thành phố quá lớn hoặc quá nhỏ đều có nhiều mặt không hợp lí. Quy mô đô thị quá lớn gây ra nhiều hiện tượng xấu trong cuộc sống đô thị và môi trường đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngược lại, quy mô đô thị quá nhỏ thì không phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội và đời sống của nhân dân. Do đó cần phải xác định một giới hạn nhất định về quy mô tối ưu của một đô thị. Đây là một vấn đề phức tạp bởi vì quá trinh hình thành và phát triển của một đô thị là một quá trình liên tục nảy sinh nhiều mâu thuẫn với nhiều yếu tố khác. Một đô thị có quy mô hợp lí khi các điều kiện về kinh tế, văn hoá, xã hội và thiên nhiên cho phép đảm bảo tốt nhất về các mặt tổ chức sản xuất, tổ chức đời sống, tổ chức không gian đô thị, cảnh quan và môi trường đô thị với những chi phí xây dựng và quản lí đô thị ít tốn kém nhất.