Cơ cấu tổ chức khu dân dụng thành phố

Tuỳ theo quy mô của đô thị, khu dân dụng ở mỗi đô thị có một cơ cấu tổ chức riêng phù hợp với tính chất và đặc điểm tình hình ở địa phương đó. Cơ cấu tổ chức khu dân dụng phải phản ánh được ý đồ tổ chức không gian, tổ chức cuộc sống của đô thị đó. Cơ cấu tổ chức khu dân dụng dựa trên cơ sở xây dụng các khu chức năng mà vai trò chính ở đây là đơn vị ở.
 Đơn vị ở của khu dân dụng được phân ra như sau
– Đối với đô thị cực lớn có : Đơn vị ở láng giềng, đơn vị ở cơ sở cấp phường, cấp khu nhà ở và cáp khu thành phố (có thể có hoặc không).
– Đối với đô thị lớn có : Đơn vị ở láng giềng, đơn vị ở cơ sở cấp phường và khu nhà ở.
– Đối với đô thị trung bình có : Đơn vị ở láng giềng, đơn vị ở cơ sở cấp phường, đơn vị khu nhà ở (có thể có hoặc không).
– Đối với đô thị loại nhỏ chỉ có : Các đơn vị ở láng giềng hoặc đơn vị phường tuỳ theo điều kiện cụ thể để bố trí (xem hình 68).
1. Đơn vị tổ chức Quy hoạch cơ hàn trong khu dân dụng đô thị
Là đơn vị ở cấp phường, tương đương với một đơn vị cấp tiểu khu nhà ở trước đây. Coi phường là đơn vị cơ sở trong cơ cấu tổ chức khu dân dụng là kế thừa những truyền thống Xây dựng khu ở của dân tộc Việt Nam không chỉ ở tên gọi mà còn là nội dung tổ chức ăn ở sinh hoạt xã hội, lao động và nghỉ ngơi của người dân đô thị.
Quy mô đất đai của đơn vị phường khoảng từ 16 đến 25 ha, với số dân từ 4000 đến 10.000 người cũng có thể lớn hơn, tuỳ theo tỉ lệ tầng cao xây dựng.
2. Khu nhà ở gồm một sổ phường có điều kiên địa lí tương tự
Được giới hạn bởi hệ thống mạng lưới đường chính đô thị và các ranh giới tự nhiên khác như sông ngòi, hồ hoặc kênh mương trong đô thị. Trong khu nhà ở có các công trình công cộng cấp khu phố như trường phổ thông trung học, công trình văn hoá xã hội, khu thương mại, y tế và hành chính khu ở …, ở đây còn có cả vườn cây xanh, sân tập thể thao thể dục.
Khu nhà ở là một đơn vị quy hoạch cơ bản đối với các thành phố lớn và cực lán. Giới hạn của khu ở là các đường giao thông chính của đô thị, khoảng từ 600 -4- 800 -4- 1000 m (1200 m). Trung bình 80 -4- 100 ha. Trong phạm vi đất đai này ngoài các công trình dịch vụ công cộng khu ở còn có thể bố trí các cơ quan, trường học, các cơ sở sản xuất nhỏ không độc hại, các xí nghiệp thủ công nghiệp v.v… Cũng vì vậy cơ cấu tổ chức quy hoạch mỗi khu ở cần được thiết kế chi tiết riêng biệt, tạo thành một đơn vị ở có đặc trưng, phát triển hài hoà với các khu vực xung quanh và trong nội bộ khu ở. Cần lưu ý đến mặt tổ chức không gian kiến trúc dọc theo các đường phố chính, nơi tập trung xây dựng nhiều công trình công cộng, giáp rành giữa hai khu nhà ở lân cận có chung một trục đường chính.
Theo quan niệm của GS, TS. Nguyễn Thế Bá, khu vực dọc hai bên trục phố chính được coi là không gian công cộng, ớ đây bố trí chủ yếu là các công trình công cộng, các cơ quan, cửa hàng, nơi làm việc của nhân dân đô thị, chợ cũng như các công trình văn hoá xã hội khác. Tại đây còn có thể xây dựng các loại nhà tập thể cao tầng kiểu khách sạn, chủ yếu dành cho những người độc thân hoặc vợ chồng trẻ trước khi tìm được chỗ ở chính thức bên trong khu ở đô thị.

Cơ cấu tổ chức khu dân dụng
Là hình thức bố cục các khu chức năng trong thành phố bảo đảm sao cho các đơn vị chức năng đó hoạt động và phát triển hài hoà.
Dựa vào sự phân cấp quản lí đô thị và những yêu cầu về kĩ thuật trong thiết kế quy hoạch xây dựng, dựa vào các hình thức tổ chức xã hội mỗi đô thị có thể có một mô hình riêng dựa trên cấu trúc cơ bản sau đây :

Cần lưu ý rằng việc phân chia thành các đơn vị ở đô thị cũng chi là một khái niệm tổng quan nhằm hệ thống hoá cấu trúc đô thị từ lớn đến bé, từ thành phố đến đơn vị nhỏ nhất là đơn vị láng giềng.