Đào hố móng

1. Yêu cầu đào hố móng
Tại địa điểm xây dựng hầm trong phạm vi vùi đoạn hầm cần lào hố móng ở dưới nước, yêu cầu độ dốc dọc đáy móng phải gióng với độ dóc dọc thiết kế của đoạn hầm. Kích thước mặt cắt của hố móng cần dựa vào kích thước mặt cắt đoạn hầm và điều kiện địa chất đê xác định, chiều rộng đào hố móng so với chièu rộng đoạn hầm phải rộng hơn 4m -r 10 m (có nghĩa là lớn hơn đoạn hầm mỗi bên 2m -ỉ- 5m). Lượng dư chiều rộng đó phải dựa vào tình hình địa chất, thời gian chờ đợi của hố móng và tốc độ dòng nước để quy định, nói chung không nên định quá nhỏ, để tránh ảnh hưởng đến việc tiến hành thuận lợi hạ chìm đoạn hầm sau khi mái dốc bị sụt lở. Chiều sâu đào hố móng là tổng số của ba độ sâu: độ sâu lóp đất đá phủ trên đỉnh hầm, chiều cao đoạn hầm, độ sâu đào móng. Mái dốc hố dào có liên quan đến điều kiện địa chất, địa tầng khác nhau thì phải dùng mải dốc khác nhau. Bảng 6.1 liệt kê trị số tham khảo mái dốc ôn định cho các địa tầng khác nhau. Ngoài ra, những nhân tố như: thời gian hố móng phải chờ ở đáy nước dài hay ngắn, tình hình dòng nước… có ảnh hưởng rất lớn đến ổn định mái dốc của hố móng, không thể xem thường.
Bảng 6.1. Mái dốc đào hô móng

Đào hố móng 1

2. Phương pháp đào hố móng
Công tác đào hố móng chia làm hai giai đoạn để tiến hành, tức là đào thô và đào tinh. Đào thô là đào đến nơi cách độ cao đáy chừng 1 m; khi đào tinh chỉ cần đào vượt lên trước 2-4-3 đốt chiều dài hầm, lớp đào tinh cần tiến hành gần với thời điểm hạ chìm đoạn ống, để phòng bùn lắng đọng vào.
Sau khi đào đến độ cao đáy móng xong cần hót hết bùn cặn còn sót lại trong hố móng.
Đào mở hố móng trong nước có thê dùng tàu hút bùn nạo vét, dùng xà lan máy chở bùn. Khi gặp tầng đất rắn, nước sâu quá 20 m + 25 m, có thể dùng thuyền có gầu ngoạm kết họp với thuyền hút bùn nhỏ vét đáy móng và kết họp với nổ phá. Khi đào thô cũng có thể dùng tàu đào bùn bằng gàu dây, có thê đào đến độ sâu 19 m. Đối với đất rắn có thể dùng tàu đào bùn gàu đơn.
Khi đào móng trong đá, trước tiên nạo vét hết lóp phủ trên mặt đá, sau đó dùng nô phá dưới nước , cuối cùng phá đá ngầm. Phá đá ngầm dưới nước dùng phương pháp khoan lỗ nổ phá, dựa vào tính chất và sản trạng của đá mà quyết định đường kính lỗ mìn, khoảng cách giữa các lỗ và khoảng cách giữa các hàng. Bố trí lỗ mìn phải xen kẽ theo hình hoa mai. Chiều sâu lỗ mìn phải vượt quá mặt đào khoảng 0,5 m, dùng mạng lưới điện để gây nổ.
Nô phá ở dưới nước phải chú ý sóng xung kích gây nguy hiểm cho tàu thuyền qua lại và nhân viên làm việc dưới nước, cần bảo đảm cự ly an toàn phù họp với quy định, đồng thời tăng cường quản lý giao thông thuỷ, bố trí các loại tín hiệu tạm thời để chỉ dẫn tàu thuyền qua lại.
6.3.2. Nạo vét lòng lạch.
Nạo vét lòng lạch bao gồm nạo vét lòng lạch tạm thời và lòng lạch để vận chuyên nổi đoạn hầm. Nạo vét lòng lạch tạm thời cần phải hoàn thành trước lúc đào mở hố móng, nhằm để bảo đảm vận chuyển an toàn thường ngày trên sông trong thời gian thi công. Lòng lạch để vận chuyên nổi dùng cho vận chuyển đoạn hầm từ đảo khô đến địa điểm xây dựnơ hầm, trước lúc kéo đoạn hầm ra khỏi đảo, lòng lạch vận chuyến cần bám theo lạch sâu của sông đê giảm thiểu khối lượng công tác đào bùn trong lòng lạch. Lòng lạch dùng để vận chuyển
nối phải bảo đảm đủ nước sâu, dựa vào tình hình địa chất đáy sông c,ần xem xét một độ sâu cột nước dư thừa (khoảng 0,5 m) và bảo đảm cho đoạn hầm được kéo đi một cách an toàn khi gặp thuỷ triều thấp.