Định hướng công tác quản lí quy hoạch và xây dựng đô thị

Mục tiêu công tác Quy hoạch và quản lí xây dựng đô thị từ nay đến năm 2000 là đảm bảo các đô thị phải có quy hoạch phát triển theo quy hoạch và pháp luật; giải quyết về cơ bản các vấn đề tồn tại về xây dựng đô thị do lịch sử đê lại, từng bước cải tạo đô thị theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thực hiện những mục tiêu trên, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau :
1. Tập trung giải quyết về cơ hàn các tồn tại lịch sứ và nhũng vấn dề mới phút sinlỉ trong quàn lí và sử dụng đất dô thị, từng hưâc lập lụi trật tụ kỉ cương trong quàn lí và phát triển dô thị.
Một trong những nhân tố quan trọng nhất của quy hoạch xây dựng đô thị là đất đô thị. Luật đất đai 1993 đã khẳng định các quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức, đơn vị và cá nhân được Nhà nưóc giao đất, cho thuê đất, đồng thời khẳng định đất có giá, đó là vấn đề mà quá trình quản lí Nhà nước về đất đai trước đây không được làm rõ, nên đã để lại khá nhiều tồn tại cho công tác quy hoạch và quản lí xây dựng đô thị.
Để tiếp tục đồi mới công tác quy hoạch và tăng cường quản lí xây dựng đô thị, nhằm thiết lập lại trật tự ki cương trong xây dựng và phát triển đô thị, trước hết các cơ quan quản lí quy hoạch đô thị, cần phối hợp với ngành địa chính và tài chính giải quyết các vấn đề tồn tại lịch sử về đất đô thị, như : Ưu tiên xây dựng hệ thống đăng kí, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong các đô thị và cả nước theo các Nghị định 88/CP, 60/CP, 61/CP của Chính phủ ; tiếp tục hoàn chình cơ chế sử dụng đất đô thị phải trả tiền ; điều tiết giá đất và tăng cường trang bị cơ sở hạ tầng phát triển đất đô thị ; hoàn chinh chính sách, cơ chế đền bù và giải phóng mặt bằng bao gồm : Xác định giá đền bù thỏa đáng, bao gồm giá đền bù các thiệt hại về tài sản gắn với đất, giá trị quyền sử dụng đất, chi phí tái định cư cho người dân có đất bị thu hồi ; các biện pháp đền bù phải đảm bảo cho người dân có đất bị thu hồi vẫn duy trì được cuộc sống ; từng bước tạo lập các yếu tố thị trường, phát triển ngành kinh doanh bất động sản có sự quản lí chặt chẽ của Nhà nước.
2. Tiếp tục dôi mói nội dung và phương pháp, nâng cao chất lượng các dồ án quy hoạch dô thị, hào dàm cung cấp dù các quy hoạch chi tiết và quy hoạch xây dựng chuyên ngành phục vụ cho công tác quản lí xây dựng dô thị. Đến nay các đô thị loại I, II, III và IV đã có quy hoạch chung được duyệt. Tuy nhiên, đối với các khu vực cải tạo hoặc xây dựng mới tại các đô thị, việc triển khai các quy hoạch chi tiết và quy hoạch chuyên ngành còn quá chậm so với yêu cầu đầu tư phát triển trước mắt và tương lai.
Để khắc phục tình trạng trước mắt cần tập trung giải quyết vốn phục vụ công tác khảo sát, thiết kế quy hoạch không nên chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nước. Thực tế đã chi ra việc huy động thêm vốn từ quỹ đất, phí, lệ phí hoặc tính vào giá thành đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu đất để lập quy hoạch chi tiết ti lệ 1/500, khi khu đất đã giao cho chủ đầu tư là cần thiết.
Ngoài ra, các địa phương cần tập trung làm trước quy hoạch chi tiết sử dụng đất đai phủ kín toàn đô thị tỉ lệ 1/2000 – 1/5000, trên cơ sở đó lựa chọn các khu đất có yêu cầu cải tạo và xây dựng tập trung, cấp bách làm trước, đồng thời xem xét cấp giấy phép hành nghề cho một số tổ chức chuyên môn có năng lực được tham gia lập các quy hoạch chi tiết.
Nội dung và phương pháp lập quy hoạch chung, các quy hoạch chi tiết và các quy hoạch chuyên ngành bước đầu đã được đổi mới, song chất lượng các đồ án quy hoạch xây dựng vẫn còn rất hạn chế, vì thế cần nghiên cứu và đưa vào sử dụng các phương pháp lập QHC và các phương pháp lập QHCT ; nghiên cứu ban hành tiêu chuẩn, quy phạm thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị và bảo vệ môi trường ; quy định về phân vùng, kèm theo các quy chuẩn về xây dựng và sử dụng đất đối với từng vùng chức năng ; ban hành hệ thống kí hiệu và các chi tiêu quản lí xây dựng đối với các lô đất ; đổi mới hình thức thể hiện các bản vẽ thiết kế QHXD đô thị, tiêu chuẩn hóa kích thước và kí hiệu các bản vẽ và hoàn chinh phương pháp lập hồ sơ đường đỏ, soạn thảo các Điều lệ quản lí quy hoạch đô thị.
3. Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống văn hàn pháp luật quàn lí Nhà nước về quy hoạch và xây dựng đô thị chủ yếu ở nhũng lĩnh vực phân loại, phân cấp quản lí đô thị ; xét duyệt QHXD đỏ thị ; kiến trúc đô thị ; cơ chế huy động vốn phát triển cơ sở hạ tầng đô thị và phát triển đô thị theo dự án ; quản lí sử dụng dất đô thị ; cải cách thủ tục hành chính trong quản lí quy hoạch và xây dựng dô thị ; quản lí trật tự xây dựng đô thị và xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị ; quản lí đầu tư và phát triển các khu đô thị mới và các khu công nghiệp tập trung v.v…
4. Cổ biện pháp hữu hiệu dê kiêm soát sự phát triển dô thị theo quy hoạch và pháp luật
Thực tế vừa qua đã chi ra một số biện pháp mà các Ban, ngành trung ương và địa phương cần xem xét áp dụng tốt hơn trong thời gian tới là :
a) Làm rõ trách nhiệm của chính quyền đô thị sở tại trong việc tổ chức thực hiện quản lí xây dụng đô thị ;
b) Tổ chức tuyên truyền, công bố và tập huấn về quy hoạch và pháp luật dể cán bộ, nhân dân biết, thực hiện và kiểm tra ;
c) Kịp thời cụ thể hóa quy hoạch chung và luật pháp thành các quy hoạch chi tiết, quy hoạch chuyên ngành, các văn bản pháp quy dưới luật ;
d) Cỏ các chương trình và dự án hấp dẫn thu hút các nguồn vốn, từng bước giái quyết các van dề then chốt nhất để bảo đảm việc cải tạo và xây dựng đô thị theo dự án và chương trình có mục tiêu ;
e I Cài tiến các thủ tục hành chinh và có hướng dẫn thực hiện, nhất là thủ tục cáp đất, cấp chúng chì quy hoạch và cấp giấy phép xây dựng.
g) Tàng cường công tác kiểm tra, thanh tra và xử lí vi phạm.
h) Xây dựng hệ thống thông tin cập nhật về quản lí và phát triển đô thị, kịp thời điểu chinh định hướng và các biện pháp cải tạo, xây dựng đô thị.
5. Tô chúc thực hiện triệt dê Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 cùa Ban chấp hành Trung ương Dàng – Nâng cao nấng lực của bộ máy quản lí xây dựng dô thị, trong dó lập trung
a) Thưc hiện triệt để cải cách thủ tục hành chính theo Nghị định 38/CP ngày 4/5/1994 cùa Chính phủ, đặc biệt trong lĩnh vực cấp đất, cấp phép xây dựng ;
bt Nghiên cứu và đưa vào sử dụng các chính sách và biện pháp tạo điều kiện đê chấn chinh và láp lại trật tự ki cương xã hội, trọng tâm là trong lĩnh vực quản lí đô thị và trật tự, an toàn giao thông, nhất là ở các thành phố lớn.
c) Giãi quyết nhanh chóng, đúng pháp luật các khiếu kiện của dân, trong đó phái tập trung vào việc giải quyết vấn đề nhà ở, đất đai còn tồn đọng từ trước tới nay trong đỏ thi
d) TỒ chức phổ biến công bố các quy hoạch và văn bản pháp luật về quản lí đỏ thi cho dân biết góp ý và thực hiện.
e) Nâng cao năng lực cơ quan quản lí xây dựng đô thị, đào tạo bồi dưỡng đủ cán bộ cho các địa phương để làm quy hoạch ; thực hiện quản lí xây dựng theo quy hoạch và làm trong sạch bộ máy hành chính Nhà nước.
Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển cho dô thị tương lai
Nghiên cứu hình thành và cỏ chương trình cụ thể để thực hiện chiến lược phát trien hệ thống đỏ thị quốc gia là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới để chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết cho việc phát triển các đô thị của thế ki XXI.
Chiến lược phát triển hệ thống đô thị quốc gia xác định phương hướng phát triển các vùng đô thị, các quần cư đô thị, đô thị là văn kiện chi đạo các ngành, các cấp chính quyển trong việc lập quy hoạch, soạn thảo các chương trình đầu tư và hoạch đinh các chinh sách phát triển đô thị.
Chiến lược phát triển hệ thống đô thị quốc gia có nhiệm vụ đánh giá và phát hiện các vấn đề thực trạng cũng như các nguồn lực chủ yếu phát triển các loại đô thị, dự báo các khả năng tăng trưởng (kinh tế, xã hội, không gian), phát hiện quy luật phát triển đô thị, từ đó có định hướng phân bố và phát triển đúng đắn các cụm đô thị và từng đô thị, đảm bảo đạt hiệu quả cao về kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước.
Đặc điểm lịch sử, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội nước ta đã ctn ra phương hướng phát triển mạng lưới quốc gia đến năm 2020 là :
a) Về quy mô dân số dô thị, đến năm 2000 lên tới 19 triệu người bằng 23% số dân cả nước, năm 2010 là 30,4 triệu bằng 33% số dân cả nước và năm 2020 là 46 triệu người bằng 45% dân số cả nước ;
b) Về động lực phát triển : Việc chuyển dịch eơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo sự phát triển các ngành giao thông, thương mại, dịch vụ, du lịch, khoa học công nghệ là động lực chủ yếu phát triển đô thị nước ta.
c) Hướng phát triển đô thị và bố trí dân cư gồm : phát triển tăng cường sử dụng quỹ đất đô thị hiện có, mở rộng ra vùng ven dô ; phát triển các đô thị vệ tinh hoặc các đô thị “đối trọng” vùng ngoại thành, phát triển các đô thị mới tại các vùng kinh tế kém phát triển, tùy thuộc vào khả năng dung nạp mỗi vùng.
Cần có biện pháp kiên quyết dãn dân lên vùng đồi, nhằm thực hiện triệt để chương trình an toàn lương thực và thực phẩm.
Việc phát triển đô thị tại các vùng đồng bằng phải bảo đảm tiết kiệm, cố gắng duy trì, bảo vệ quỹ đất nông nghiệp ít ỏi của chúng ta.
d) Mô hình tổ chức hệ thống đô thị quốc gia nước ta trong thời gian tới là :
Tăng cưởng phát huy vai trò trung tâm của các đô thị loại I, loại II và loại III – là những cực tăng trưởng và là điểm tựa hình thành các quần cư đô thị – nông thôn theo lãnh thổ, đồng thời hình thành nhiều trung tâm đô thị vừa và nhỏ, phân bố hợp lí, không tập trung quá đông vào các đô thị lớn, tiến tới nhất chế hóa đô thị nông thôn.
Nghiên cứu mô hình quy hoạch các đô thị lớn, các đô thị nhỏ và vừa, .các đô thị mới phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xả hội của từng vùng và xu hướng phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ỡ thế lu XXI.
Có biện pháp hữu hiệu điểu hòa sự phát triển quá tải tại các đô thj cực lớn, đồng thời tạo nguồn lực tăng cường vai trò, chức năng của các đô thị nhỏ vá vừa ; thòng qua biện pháp phát triển mạng lưới giao thông liên điểm dân cư và phân bố lại lực lượng sản xuất trên địa bàn cả nước.
ưu tiên phát triển các đô thị “cửa khẩu” và các vùng kinh tế trọng điểm như thành phố Hồ Chí Minh – Sông Bé – Biên Hòa – Bà Rịa Vũng Tầu, Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh ; Huế – Đà Nắng – Quảng Ngãi, để phát huy vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa KHKT, đầu mối phát triển kinh tế đối ngoại, liên kết, thúc đẩy và lôi kéo các đô thị khác phát triển, đồng thời tạo ra sự phát triển cân bằng giữa 3 miền Bắc, Trung, Nam.
Ngăn cản sự phát triển khu dân cư bám sát chạy dài theo các quốc lộ, bằng biện pháp nghiên cứu và đưa vào sử dụng mô hình tuyến điểm phù hợp với hệ thống giao thông tốc hành trong tương lai.
Yêu cầu phát triển mạng lưới đô thị quốc gia phải bảo đảm tính cân bằng và bền vững, vì thế trên lãnh thổ cả nước và từng đô thị phải hình thành được bộ khung bảo vệ thiên nhiên vững chắc, đảm bảo cân bằng sinh thái đô thị.
Tại các đô thị, cần xây dựng mô hình các đơn vị ở kiểu mới, trên cơ sở xây dựng mô hình các đơn vị ở hoặc tiểu khu phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta bảo đảm các điều kiện ở, làm việc mua bán, học tập, vui chơi giải trí hàng ngày của người dân được thuận tiện, thích hợp với lối sống và sinh hoạt của người Việt Nam.
Bộ mặt kiến trúc tại các đô thị phải được ‘chăm lo, trên cơ sở bảo vệ, giữ gìn các di sản văn hóa có giá trị của dân tộc ; đồng thời làm giàu các di sản đó bằng các công trình kiến trúc mới, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội dưới 2 tỷ