Đổ bê tông đoạn hầm

Công nghệ bê tông đúc đoạn hầm trên đảo khô về cơ bản cũng tương tự công nghệ đúc bê
tông cua kết cấu trên đất liền nhưng do đoạn hầm đúc xong, lại còn phải vận chuyển nổi và hạ xuống đáy sông đặt trên móng, vì thế khi đổ bê tông đúc đoạn hầm cần bảo đảm chất lượng đồng đều và tính kín nước.
Bảo đảm chất lượng đồng đèu là phải làm sao cho đoạn hầm hình chữ nhật khi nổi lên để vận chuyên thì phần khô còn lại khoảng 10 cm hoặc 20 cm (phần khô là chiều cao nằm trên mớm nước trong quá trình vận chuyển nổi đoạn hầm), chiếm 1,2% -ỉ- 2% tổng chiều cao của đoạn hầm. Nếu múc độ thay đổi dung trọng của bê tông đoạn hầm hoi lớn, vượt quá 1 % trở lên, đoạn hầm có thể không nổi lên được. Ngoài ra, nếu sai số cục bộ của chiều dày các bộ phận của đoạn hầm quá lớn, hoặc độ chặt của bê tông các bộ phận của đoạn hầm không đồng đều, đoạn hầm có thể bị nghiêng, sẽ không bảo đảm được phần khô phía trên, vì thế, khi ché tạo đoạn hầm cần kiểm tra kích thước và độ chặt bê tông của nó. Đê’ cho kích thước chuẩn xác, bè ngoài của đoạn hầm bằng phẳng, cần dùng cỗ xe cốp pha trượt trong và ngoài cỡ lớn, có độ cứng cao, độ chính xác lớn, có thể vi xử lý để đúc bê tông đoạn ống. Khi đổ bê tông cần khống chế nghiêm ngặt biến dạng và di động của cốp pha. Đê’ làm cho bê tông đạt được chất lượng đồng đều, cần quản lý, khống ché một cách chặt chẽ trong suốt toàn bộ quá trình đô’bê tông. Mỗi kíp 8 giờ cần lấy một số mẫu bê tông nhất định, thông qua đo đạc thực tế biết được thay đổi độ đặc của bê tông đê’ đạt được:
(6.1)

Đổ bê tông đoạn hầm 1

Trong đó: p – Độ chặt mẫu thí nghiệm; p – Độ chặt bình quân.
Đê’ bảo đảm kích thước của đoạn hầm, cần giải quyết tốt vấn đề phòng nước của đoạn hầm, để tránh mọi hiện tượng thấm nước. Biện pháp phòng nước cho đoạn hầm có ba loại: phòng nước của bản thân vật kết cấu, phòng nước phía ngoài vật kết cấu và phòng nước cho mối nối thi công.
a. Bản thân phòng nước.
Bản thân đoạn hầm phòng nước lấy bê tông của chính nó phòng nước là chính, chủ yếu dựa vào hai mặt để nâng cao năng lực phòng nước của bản thân bê tông của đoạn hầm: một mặt phải dùng bê tông phòng được nước đê’ đúc đoạn hầm, mác chống thấm của bê tông phải dựa vào thang bậc thuỷ lực của nước sâu tối đa và bè dày tường bên của đoạn ống đê’ lựa chọn. Còn mặt khác cần ngăn ngừa các vết nứt của bê tông đoạn hầm do chênh lệch nhiệt độ và khô ngót. Trong thi công cần dùng các biện pháp sau đây đê’ ngăn chặn cảc vét nứt cho đoạn hầm:
– Hạ thấp nhiệt độ đô’ bê tông: dùng loại xi măng nhiệt độ thuỷ hoá thấp (như xi măng bã quặng); giảm thấp tỷ lệ N/XM; hạ thấp lượng dùng xi măng (như gia thêm bụi tro than); mùa hè trộn bê tông bằng nước đá; dùng biện pháp trộn bê tông và đô vào ban đêm lúc nhiệt độ thấp và một số biện pháp khác.
– Giảm thiểu sai lệch nhiệt độ ở hai phía mối nối thi công, ví dụ như khi đổ bê tông tường bên, tại chỗ tường bên cách tấm đây 3 m bố trí các đường ống nước lạnh chạy ngoằn ngoèo để hạ thấp nhiệt độ bê tông tường bên, làm cho nhiệt độ đổ bê tông tấm đáy lần trước và nhiệt độ đô bê tông tường bên lần sau không chênh lệch nhau nhiều lắm.
– Khống ché chiều dài đoạn hầm: chia đoạn hầm ra nhiều đốt để thi công, mỗi đốt dài
khoảng 15 m -T- 20 m.
– Khống ché độ chênh nhiệt độ bê tông trong và ngoài: dùng loại cốp pha có tính năng cách nhiệt tốt, lùi thời gian tháo cốp pha, tăng cường công tác dưỡng hộ bê tông.
b. Phòng nước mặt ngoài
Tầng phòng nước phía ngoài cần thoả mãn các yêu cầu sau: tính không thấm nước, bền chắc, chịu được nén, chống được mục, không phải tu sủa, có thể thích ứng với thay đổi nhiệt độ làm cho đoạn hầm khi co khi duỗi, tiện cho thi công, tương đối kinh tế v.v… Biện pháp phòng nước mặt ngoài bao gồm: vỏ thép, tấm thép phòng nước, cuộn giấy dầu, phòng nước bằng màng bảo vệ và vật liệu son phòng nước v.v…
– Vỏ thép phòng nước.
Đoạn hầm hình tròn thì dùng vỏ thép (dày 12 mm) làm cốp pha kiêm tầng phòng nước vĩnh cửu. Nhưng tốn nhiều thép, tính phòng nước của mối hàn hơi kém, vấn đề phòng gỉ cho thép khó giải quyết. Neu đoạn hầm bằng tê tông cốt thép hình chữ nhật thì dùng thép tấm dày 6 mm ở đáy hầm và phần dưới cạnh bên làm tầng phòng nước mặt ngoài. Nối liền các tấm thép phòng nước nói chung đều dùng mối hàn, trên tấm thép dùng cót thép neo chặt Ộ8 X100 ram, mỗi thước vuông một chiếc, tại góc tấm thép bố trí dày thêm 2 chiếc mỗi mét vuông, làm cho tấm thép bám chặt vào bê tông. Tấm thép đáy còn có tác dụng bảo vệ đoạn hầm khi vận chuyển noi và khi hạ chìm.
– Cuộn vải nhựa và tầng phòng nước.
Tường bên và tấm đỉnh của đoạn hầm có thể dùng màng dẻo hoặc tầng phòng nước. Màng dẻo có thê dùng cuộn vải nhụa hoặc cuộn keo pôlyme. vải nhựa dùng loại sợi bện dệt lại là tốt và bền nhất, hoặc vải nhụa sợi thuỷ tinh càng thích họp với công trình dưới nước, nhưng giá thành hơi cao. Cuộn vải nhựa nói chung dùng nhụa đường quét rồi dán kín. Dán tấm đỉnh phải bắt đầu từ giữa giàn ra hai bên, dán tường bên thì bắt đầu từ dưới dán lên trên, mối nối phải đè lên nhau rộng 10 cm -ỉ- 15 cm, miếng nối không được vểnh lên. Cuộn cao su tổng họp phải dùng loại cao su pôlyme butiđiêng dày 2mm, số lóp cần thiết dựa vào cột nước để quyết dịnh. Khi nước sâu 20 m có thể dùng 3 -ỉ- 5 lóp. Cuộn vật liệu phòng nước đều cần có một tầng bảo vệ mặt ngoài, cấu tạo của nó tuỳ theo vị trí trên đoạn hầm có khác nhau. Phía ngoài của tường bên, có thê dùng tấm gỗ hoặc bê tông làm tầng bảo vệ, có đường hầm không bố trí tầng bảo vệ tường bên mà dùng tấm bảo vệ trên đỉnh kéo dài xuống đến đáy tường bên đê hình thành lóp
bảo vệ mặt bên. Trên tấm đỉnh đoạn hầm thường có một lóp bê tông cốt thép bảo vệ dày 10 -r 18 cm, đồng thời có tác dụng đề phòng rách xước. Đê° tránh “góc cạnh sắc”, hai góc trên của đoạn hầm phải ché tạo thành tròn hoặc góc tù.
Khiếm khuyết của cuộn vận liệu phòng nước là công nghệ thi công phức tạp, dễ bị bong sửa chữa lại. khó khăn.
– Quét son phòng nước.
Quét sơn phòng nước cho tường bên và tấm đỉnh của đoạn hầm đê phòng nước là một công nghệ đơn giản nhưng tác dụng yếu, nên hiện nay ít dùng.