Hào phụ (P2)

2.11.3. Giếng nghiêng
Giếng nghiêng là hào nghiêng được đào từ một bên đường hầm chính. Khi một bên phần hầm có thung lũng rộng rãi và tầng phủ không dày lắm có thể cân nhắc bố trí giếng nghiêng.
Khi thiết kế và thi công giếng nghiêng cần chú ý các sự việc sau:
1. Khi đường hầm nằm không sâu, điều kiện địa chất khá tốt, mặt bên hầm có địa hình thung lũng hay đất thấp, có thể dùng giếng nghiêng làm hào phụ. Mặt bằng mặt cắt của giếng nghiêng như trong hình 2.84 đã vẽ.
2. Miệng giếng nghiêng không được bố trí tại các nơi bị ngập lụt. Chiều rộng hiện trường của miệng giếng tối thiểu không được nhỏ hơn 20m đê có lợi cho bố trí hiện trường của miệng giếng, đô đất đá và nhận vật liệu, thân giếng cần tránh đoạn địa chất xấu và chứa nhiều nước.
Góc nghiêng của giếng a to hay nhỏ, chủ yếu cân nhắc chiều dài giếng và thuận tiện cho thi công, bình thường không lớn hơn 25° và trên thân giếng không được thay đổi độ dốc. Góc kẹp giữa tim giếng và tim hầm không nên nhỏ hơn 40°, chỗ nối với hầm chính phải có đoạn bằng 15m -r 25m để nối, để tiện cho thi công vận chuyển và bảo đảm vận chuyển an toàn. Tại miệng giếng phải bố trí một đoạn dốc ra ngoài 3%0 đê phòng toa xe không trôi vào trong giếng tạo thành sự cố và cũng để có lợi cho thoát nước. 
(3) Chiều dài giếng nghiêng không nên vượt quá 200m để giảm giá thành công trình và bảo đảm hiệu năng vận chuyển. Khi cần sử dụng phưomg án giếng nghiêng có chiều dài lớn cần so sánh kinh tế.
(4) Cơ giới thường dùng là máy tời kéo xe goòng, khi độ dốc nhỏ có thể dùng băng tải hoặc vận chuyển không ray. Khi cần dùng ray thì cần xem số lượng đất đá cần vận chuyển ra để lắp đặt đường ray. Khi giếng nghiêng cần dùng cho thông gió vĩnh cửu thì phải xem xét mặt cắt lớn hay bé để đáp ứng yêu cầu thông gió.
(5) Đoạn vào miệng giếng có cần xây vỏ, các bộ phận khác hay không cần phải dựa vào điều kiện địa chất và xem xét có cần dùng cho thông gió vĩnh cửu hay không mà quyết định.
(6) Trong thời gian thi công cần làm tốt công trình phòng và thoát nước tại miệng giếng, tuyệt đối không để nước lũ gây ngập lụt. Tòi kéo xe goòng phải đè phòng đứt dây cáp hoặc sự cố tuột móc. Vì thế cần khống ché chặt chẽ tốc độ kéo (khi chiều dài giếng nghiêng nhỏ hơn 200m, tốc độ xe không được lớn hơn 3,5m/giây; khi chiều dài giếng vượt quá 200m có thê nâng cao tốc độ xe một cách thích đáng. Miệng giếng cần có xà ngăn (hình 2.85). Khi xe goòng đã ra khỏi giếng xong cần lắp xà ngăn vào đề phòng xe trôi xuống dốc. Đe đề phòng xe goòng trượt xuống đáy giếng do đứt dây cáp hoặc tụt móc, cần bố trí ở lưng chừng dốc một rãnh chắn. Cũng có thê bố trí ở đó một dây cáp chắn, có một công nhân canh giữ, khi xe goòng di qua xong thì mắc dây cáp chặn lại. Như vậy chẳng may xe goòng bị đứt dây cáp hay bị tụt móc kéo, cũng không đến nỗi tụt xuống đáy giếng gây sự có nghiêm trọng. Ngoài ra, tại bãi điều xe ở đáy giếng cứ cách 30m -7- 50m cần bố trí các hầm cho người tránh đế bảo đảm an toàn cho công nhân thi công.

Hào phụ (P2) 1

 (7) Đê báo đám an toàn cho thi công, lại cần chú ý che chống cho bãi điều xe ở đáy giếng nghiêng hoặc phải xây vỏ hầm. Đê’ nâng cao hiệu suất vận chuyển, có thê bố trí thêm một kho trung chuyên đất đá trên bãi điều xe ở đáy giếng và hết sức tránh thao tác móc và tháo xe goòng tại miệng giếng nghiêng.