Hào phụ (P3)

.4. Giếng đứng
1. Các nguyên tắc chung
Giếng đứng được đào thẳng đứng trên trục hầm. Đường hầm dài, ở chặng giữa tầng phủ không dày lắm, cần mở thêm mặt công tác để tăng nhanh tiến độ công tác. Chiều sâu giếng đứng nói chung không vượt quá 150m.
Vị trí của giếng đứng có thể đặt ở một bên đường hầm, cách đường hầm khoảng 15m -T- 25m (hình 2.86V, hoặc nằm ngay trên đỉnh hầm. Giếng đứng nằm bên đường hầm thi công an toàn, ít cản trở nhimg hiệu quả thông gió kém. Khi giếng đứng nằm trên đỉnh hầm, thông gió tốt, không cần đặt đường thông ngang, nhưng thi công cản trở, không an toàn trong thi công.
Mặt căt giêng hình tròn sẽ có tỷ suât lcrí dụng mặt cắt thấp, nhung thi công tiện lọi và điều kiện chịu lục tốt, cho nên thường dùng xây dụng giếng đứng tạm thời hoặc giếng đơn giản ở chỗ vi nham có áp lục lớn.
Vị trí, mặt cắt, hình dạng của giếng đứng thường căn cứ vào yêu cầu thi công, thông gió, khả năng dùng cho thông gió vĩnh cửu, giá thành và một số nhân tố khác để xác định. Khi cần bố tri trên hai giếng đứng, phải phân tích kinh tế kĩ thuật để bảo đảm họp lí và giá thành không quá cao.
Kích thước mặt cắt giếng đứng cần căn cứ các nhân tố như: năng lực nâng, thiết bị máy móc, số đường ống thông gió, thoát nước, thang an toàn để cân nhắc quyết định. Nếu dùng mặt cắt hình tròn thì khoảng 4m -ỉ- 6m đường kính. Cấu tạo giếng đứng bao gồm: vành miệng giếng, thân giếng, đáy giếng và đoạn nối giữa giếng dứng và đường hầm, dưới cùng có hố chứa nước (hình 2.87).
Đoạn miệng giếng thường nằm trong đất mềm, từ mặt đất xuống dưới lm -r 2m cần bố
trí một vành bê tông cốt thép để chịu áp lực đất, tải trọng mà các vật kiến trúc chuyên lại cho miệng giếng qua đất, tải trọng do máy móc công cụ sản sinh và chịu tải trọng do móc cẩu treo khi thi công. Nếu khi gặp vi nham vụn nát cần xây vỏ giếng. Khoảng cách giữa mặt công tác và vỏ giếng không được vượt quấ 30m, chiều dày vỏ giếng do thiết kế tính toán và xác định, nhưng không nhỏ hơn 20cm.
Ngàm vách hầm được bố trí để đề phòng vách giếng trượt xuống, khoảng cách các ngàm do tình hình địa chất và kết cấu vỏ giếng mà xác định, nói chung là 30m -ỉ- 40m.
Trong thi công, tại miệng giếng, đáy giếng cần có biện pháp an toàn để đề phòng sự cố xảy ra khi thi công. Phải chú ý chống lụt ở miệng giếng, tăng cường biện pháp thoát nước chống lũ lụt. Giữa miệng giếng và đáy giếng cần bố trí thiết bị thông tin để giữ liên hệ mật thiết.
Dựa theo điều kiện điạ chất và thuỷ văn giếng đứng có thể dùng nhân công đào hoặc dùng phương pháp hạ giếng chìm để thi công.
Ngoài ra, khi có điều kiện và cần thiết, có thể bố trí các lỗ khoan đê đưa vật liệu (tức khoan một loại giếng đứng đơn giản mặt cắt nhỏ) dùng để chuyển cát, đá, thậm chí cả bê tông v.v… Loại lỗ chuyền vật liệu này thường dùng cách khoan giếng để thi công và kết hợp sử dụng với giếng đứng và giếng nghiêng để giảm bớt khối lượng vận chuyển của giếng đứng và giếng nghiêng do đó nâng cao được hiệu suất thi công.