Kế hoạch đo đạc

Đo đạc hiện trường là một loại công tác trọng yếu trong công tác thi công đường hầm và công trình ngầm hiện đại. Trên cơ sở của điều tra sơ bộ, dựa vào điều kiện địa chất thực tế của công trình, phương Ị. láp thi công, yêu cầu hoàn cảnh, điều kiện kinh tế… mà biên soạn một kế
hoạch thục thi về đo đạc hiện trường với mục đích cụ thể và xác định ké hoạch cần bao gôm: lựa chọn hạng mục đo đạc, bố trí mặt cắt cần đo đạc, tuyến đo, điếm đo, lỗ đo, xác định số lần đo và thời hạn đo.
1. Lựa chọn hạng mục đo đạc
Bảng 2-30 đã chỉ ra nội dung đo đạc hiện trường cho công trình hầm và quy định hạng mục phải đo và hạng mục lira chọn Nó cũng vạch ra nguyên tắc cơ bản để lựa chọn hạng mục
đo đạc.
2. Bố trí mặt cắt tuyến đo, điểm đo, lỗ đo
(1) Bố trí mặt cắt đo: Mặt cắt đo có hai loại: mặt cắt đo đom nhất, và mặt cắt đo tông hợp.
Đem một lọai nội dung đo đạc bố trí ở trong một mặt cắt đo đạc, nhằm tìm hiểu tình hình biến đôi trạng thái của vi nham và hệ chóng trong mặt cắt đó. Loại đo đạc ấy được gọi là đo đạc mặt cắt đom nhất. Đem một số hạng mục đo đạc bố trí vào trong một mặt cắt, khiến cho các kết quả của các loại đo đạc ấy, các loại phương pháp đo đạc khác nhau ấy được đem so sánh phân tích và phán đoán động thái biến hóa đối với mặt cắt đó, cách làm này được gọi là đo đạc mặt cắt tổng họp.
Trong công trình đường hầm, mặt cắt đo đạc nói chung đều được bố trí cách nhau theo hướng dọc trong đường hầm. Do yêu cầu của hạng mục đo đạc khác nhau, nên khoảng cách các mặt cắt đo đạc cũng khác nhau. Khoảng cách giữa các mặt cắt đo đạc theo quy định có
ba loại:
a. Đỉnh vòm bị lún và chuyên vị ở chu vi nói chung được bố trí đo trên cùng mặt cắt. Khoảng cách giữa các mặt cắt theo quy định trong bảng 2-32 (B, chiều rộng của hầm).
Bảng 2.32. Khoảng cách mặt cắt đo đỉnh vòm bị lún và chuyển vị chu vi hầm

b. Đo đạc mặt đất bị lún có quan hệ với độ chôn sâu rất lớn, khoảng cách mặt cắt đo đạc có thể tham khảo bảng 2.32 để chấp hành.
c. Các hạng mục đo khác nói chung đều có thể bố trí trên mặt cắt đo đạc tổng họp thường được gọi là mặt cắt đo đại biểu, khoảng cách và số lượng của chúng dựa vào nhu cầu cụ thể mà quy định. Nói chung trong điều kiện vi nham thông thường, cứ 200m -ỉ- 500m bố trí một
mặt cắt.
Ngoài ra, mặt cắt đo đạc cần gần mặt đào. Nói chung yêu cầu không quá 2m, thực té có
nơi đã bố trí mặt cắt đo thí nghiệm chỉ cách mặt đào 0,50m, hiệu quả đo đạc thí nghiệm càng tốt (nhưng cần chú ý tăng cường bảo vệ đối với điếm đo và khí cụ).
(2) Bố trí tuyến đo chuyển vị ở chu vi
Tuyến đo chuyển vị tương đối ở chu vi có thể tham khảo bảng 2.34 và hình 2.65 để bố trí. Bảng 2.34. Số đo chuyển vị ở chu vi
d) Tuyến đo 5 đường d) Tuyến đo 6 đường d) Tuyến đo 7 đường
Hình 2.65. Bố trí tuyến đo chuyển vị chu vi 
Điểm đo đỉnh vòm bị lún nói chung có thể dùng làm điểm đo chuyển vị ở chu vi, như vậy thì tiết kiệm được công bố trí và điều quan trọng hơn là làm cho điểm đo thống nhất, kết quả đo đươc có thê đem so với nhau.
(2) Bố trí lỗ đo của chuyển vị trong nội bô vi nham
Lỗ đo chuyển vị tương đối trong nội bộ vi nham nói chung bố trí tương ứng với tuyến đo chuyển vị ở chu vi, để nhằm làm cho hai loại kết quả đo đạc có thể kiếm chứng với nhau cùng phân tích và ứng dụng phối hợp với nhau (hình 2.66).

Kế hoạch đo đạc 1
Hình 2.66. Bố trí lỗ đo chuyển vị nội bộ vi nham

(3) Bố trí đo lực dọc trục của neo
Vị trí bố trí đê đo lực dọc trục của neo trên mặt cắt, cần căn cứ vào vị trí neo che chống đã thiết kế cho công trình để xác định, nói chung có thê tham khảo cách bố trí lỗ đo chuyển vị trong nội bộ vi nham.
(4) Bố trí điểm đo ứng suất trong của hệ che chống lần thứ nhất và hệ che chống lần hai cùng ứng suất tiếp xúc giữa chúng với vi nham. Trong tình hình bình thường nên bố trí tại các điểm có tính đại biểu như đỉnh vòm, chân vòm (đỉnh tường), hông vòm, hông tường, chân lường v.v… và cần xem xét cách bố trí đê có thể dùng kết quả đối chiếu với ứng suất trong các neo (hình 2.67). Ngoài ra, tại chỗ có những nét đặt biệt như: áp lực lệch, đáy trồi lên… thì xem tình hình cụ thể điều chỉnh vị trí điểm đo và số lượng điểm đo.

Iiình 2.67. Bố trí điểm đo ứng suất tầng phun
(5) Bố trí điểm đo đất trên mặt và đất bên trong bị lún
Điểm đo lún trên mặt đất hay trong đất chủ yếu nên bố trí trên trục của hầm ở phía trên. Nếu nằm trong đất thì phải khoan lỗ. cần bố trí thêm một số điểm đo cần thiết theo hướng ngang. Ngoài ra, bên ngoài vùng lún cũng cần bố trí thêm điểm đo để tham khảo đối chiếu (hình 2.68). 

 Hình 2.68. Bố trí đo lún bề mặt và điểm đo lún trong đất.
(7) Bố trí lỗ đo sóng âm thamh. Lỗ đo sóng âm thanh nên bố trí tại các vị trí có tính tiêu biêu (hình 2.69). Ngoài ra cần xét đến mối quan hệ giữa thớ tầng đá và vết nút với phương hướng lỗ đo.

a) 5 lỗ đo b) 9 lỏ đo b) 13 lổ đo
Hình 2.69. Bố trí lỗ đo bằng sóng âm thanh Có thể dùng hai phương pháp đo: một lỗ hay hai lỗ.