Ổn định mặt đào và biện pháp phụ bảo đảm ổn định (P3)

2. Ống nhỏ vượt lẽn trước và phun vữa
(1) Cấu tạo
Cách làm như sau: Trước tiên phun bê tông vào mặt sắp đào và bịt kín hào đào trong phạm vi 5m, sau đó dọc theo chu vi đường hào đóng ống nhỏ có đục lỗ vào trong vi nham phía trước mặt và thông qua ống nhỏ phun vữa có tác dụng keo kết vào vi nham, đợi cho vữa cứng xong, nham thể chu vi đường hào sẽ hình thành một vành gia cố có một độ dày nhất định. Dưới sự bảo vệ của vành gia cố đó, công nhân có thể thi công đào một cách an toàn (hình 2.51). Nếu đằng trước ống nhỏ được hàn thêm một mũi khoan đơn giản thì có thể khoan lỗ và cắm ống cùng một lần là xong. Đó là cách phun neo tự tiến.
(2) Đặc điểm tính năng và điều kiện thích dụng
Vữa bị ép vào trong các khe hở nham thể sẽ trở nên cứng, không chỉ làm cho các tảng đá hoặc các hạt đất đá sẽ gắn kết thành một khối có tác dụng gia cố mà còn bịt kín các khe hở chặn nước ngầm không cho thấm và chảy vào đường hâm, như vậy cách làm này cũng có tác dụng ngăn ngừa nước, vì thế hình thức ống nhỏ vượt lên trước và phun vữa không chỉ thích dụng nói chung với vi nham nát vụn mèm yếu, mà còn thích dụng với vi nham nát vụn mềm yếu có nhiều nước ngầm.
(3) Bố trí và lắp ráp ống nhỏ
a. Trước lúc khoan lỗ lắp ráp ống nhỏ cần phun bê tông dày 5cm -ỉ- 10cm bịt kín đối với mặt đào và hào đào trong vi nham 5m.
ống nhỏ

Ổn định mặt đào và biện pháp phụ bảo đảm ổn định (P3) 1

Ổn định mặt đào và biện pháp phụ bảo đảm ổn định (P3) 1

b) Lưa chon bán kính phun vữa và khoảng cách lỗ …. , – … , .. , ,
r 3 c) Hình vẽ đây đủ của ông nhó
Hình 2.51. Gia cố vi nham bằng ống nhỏ vượt lên trước và phun vữa

b. Bình thường ống nhỏ được chế tạo bằng ống thép hàn (ị)32mm hoặc ống thép đúc liền Ộ40mm, chiều dài khoảng 3m 4- 6m, cuối của ống chế tạo thành mũi dùi và cứ cách 10cm 4- 20cm khoan lỗ xen kẽ, đường kính lỗ nên là 6mm 4- 8mm.
c. Đường kính lỗ khoan cần lốn hơn đường kính ống 20mm trở lên, khoảng cách vòng tròn cần dựa theo điều kiện địa tầng mà xác định. Địa tầng có hệ số thẩm thấu lớn, khoảng cách nên to hơn, bình thường dùng 20cm 4- 50cm; góc cắm ngoài nên khống chế trong khoảng 10° 4- 30″, nói chung dùng 15°.
d. Khi phun vữa nén chặt trong vi nham nứt nẻ loại II nên dùng một hàng ống; khi ép vào vi nham loại I hoặc khi xử lý đât sụt có thể dùng hai hàng ống; nham tầng ròi và mềm có nhiều
nước ngầm có thể dùng nhiều hàng ống với hai hàng trở lên, nếu phun vữa thấm nhập có thể dùng một hàng óng; khi gặp mặt cắt lớn hoặc hiệu quả phun vữa kém có thể dùng hai hàng ống.
đ. Sau khi đã cắm vào, ống cần nhô ra ngoài một độ dài nhất định để tiện cho việc phun vữa liên tiếp vào lỗ rồi dùng xi măng và keo (loại thủy tinh nước 40Be trộn với xi măng mác 525) bịt kín khe hở trong lỗ và chu vi lỗ.
(4) Vật liệu vữa phun
(1) Các loại và điều kiện thích dụng của vữa phun
a. Trong vùng đoạn tầng nát vụn và địa tầng sỏi đá (độ rộng khe nứt hoặc đường kính hạt lớn hon lmm, hệ số thẩm thấu k > 5 X 10″4 m/giây) và trong địa tầng có tính thẩm thấu mạnh nên dùng vật liệu vữa có nguồn nguyên vật liệu rộng và giá thành rẻ. Nói chung đối với địa tầng rời rạc, nên ưu tiên dùng vữa xi măng lỏng; đối với địa tầng thẩm thấu mạng thì nên dùng vữa xi măng lỏng + vữa thủy tinh nước để khống ché.
b- Vùng đoạn tầng có bùn, khi khe nứt rộng (hoặc đường kính hạt) nhỏ hcm lmm, hoặc khi hệ só thẩm thấu k > 10“5 m/giây, nên chọn lựa loại vữa xi măng có thủy tinh nước.
c. Trong tầng cát vừa, mịn, bụi, các tầng nham thạch có nhiều khe nứt nhỏ và trong vùng bùn của đoạn tầng cũng như trong các vùng mèm yếu thẩm thấu mạnh nên dùng loại vữa hóa học gặp nước thì trương nở, ít độc hại, có tính thẩm thấu tốt như loại polyxơtyren.
d. Đối với các tầng đất sét không thấm nước thì nên dùng cách phun vữa cao áp đê bổ
chẻ.
(2) Tỉ lệ trộn vật liệu vữa phun
Tỉ lệ trộn vật liệu vữa phun cần dựa vào tình hình địa tầng và yêu cầu vè thời gian keo kết, qua thí nghiệm để xác định, nói chung nên như sau:
a. Khi dùng vữa xi măng, tỉ lệ nước xi măng có thể là: 0,8:1 -í- 2:1, nếu cần có thời gian ninh kết rút ngắn lại thì có thể thêm các chất ninh kết nhanh.
b. Khi phun vữa xi măng + thủy tinh nước có thể dùng tỉ lệ nước xi măng 0,8:1 -ỉ- 1,5:1; nồng độ thủy tinh nước là 25° -ỉ- 40°Be, tỉ lệ thể tích vữa xi măng và thủy tinh nước là 1:1 -H 1:0,3.
(5) Phun vữa
a. Thiết bị phun vữa cần có đủ tính năng đàn hồi tốt, áp lục công tác cần thỏa mãn yêu cầu áp lực đẩy vữa, và cần thực hiện thí nghiệm đẩy thử.
b. Áp lực cao nhất ở miệng lỗ phun của ống nhỏ cần khống chế chặt chẽ trong phạm vi cho phép. Đe đè phòng ép vỡ mặt đào thì áp lực phun vữa nói chung là 0,5MPa -T- l,0MPa, phải kinh qua áp lực phun vữa xong mới ngừng phun và tạo nút. Áp lực phun vữa có quan hệ với điều kiện địa tầng và yêu cầu phạm vi phun vữa, nói chung ông đơn phun vữa có thê khuếch tán xung quang ống trong phạm vi bán kính 0,5m -f l,0m.
c. Cần phải khống chế lượng vữa phun, tức là khi trong mỗi ống đã đạt đến lượng phun quy định thì phải kết thúc; nếu áp lực ở miệng lỗ đã đạt đến trị số áp lực quy định nhưng lượng rót vào vẫn chưa đủ thì cần đình chỉ phun vữa.
d. Sau khi kết thúc phun vữa, cần khoan một số lỗ nhất định để kiểm tra hoặc dùng máy thăm dò bằng sóng âm thanh kiểm tra hiệu quả phun vữa, nếu chưa đạt yêu cầu cần tiến hành phun bô sung.
đ. Sau khi phun vữa xong, tùy theo loại vữa, đợi 4 giờ (nếu vữa xi măng + thủy tinh nước) hoặc 8 giờ (nếu là vữa xi măng) mới có thể bắt đầu đào, chiều dài đào phải theo quy định của số thước đào tuần hoàn thiết kế nhằm chừa lại một độ dài nhất định (tức là đoạn ngắn nhất đã phun vữa còn lại).
e. Neo tự tiến có đặc điểm sau:
(1) Đầu ống nhỏ có hàn một mũi khoan đơn giản hoặc mũi nhọn, vì thế nên khoan lỗ và ép ống đồng thời tiến hành rút ngắn được thời gian lắp ống; nhất là thích họp với khoan lỗ trong địa tầng dễ sụt lở;
(2) Đối với địa tầng dùng vữa xi măng, neo có thê được cải tiến bằng dùng vữa xi măng cát, có tiến lên một bước giảm giá thành;
(3) Thân ống có thể tạo các vân sóng hoặc cổ đường kính ống thay đổi đê tăng thêm lực dính và neo két cũng như hiệu quả gia cố.