Phân tích và phản hồi số liệu đo đạc (P2)

Cần đặc biệt chỉ ra rằng: trong các địa tầng có tính lưu biến và có tính trương nở mãnh liệt, khi chỉ đơn thuần dựa vào che chống lần đầu không thể làm cho vi nham chuyển vị co rút, thì tốt nhất là trước khi chuyển vị co rút xảy ra, cần ghép cốp pha đổ bè tông che chống lần thứ hai thực hiện được việc ngăn ngừa vi nham chuyển vị một cách có hiệu quả.
1. Phân tích và phản hồi chuyển vị bên trong vi nham và khu vực bị lay động.
Cũng như nguyên lí chuyển vị chu vi, khu thực đo vi nham vượt quá khu lay động cho phép tối đa (bán kính khu lay động cho phép và lượng chuyển vị cho phép tương ứng) thì chứng
tỏ vi nham đã xuất hiện trạng thái lay động phá hoại, lúc ấy cần tăng cường che chống hoặc điều chỉnh biện pháp thi công nhằm khống chế phạm vi lay động. Như gia cường hệ neo (cho dài thêm, chặt thêm, và to lên) v.v… Nói chung yêu cầu hệ neo phải có chiều dài lớn hon phạm vi khu lay động.
4. Phân tích và phán hổi lực dọc trục của neo
Căn cứ ứng suất và biến dạng đo được trong neo, thì có thể tính được lực theo trục của neo:

Phân tích và phản hồi số liệu đo đạc (P2) 1

Trong đó: N- lực theo trục của neo; ộ- đường kính neo; E- mô đun đàn hồi của neo; € , hai trị số biến dạng của một tổ phiến đo biến dạng tại vị trí đo đối xứng.
ứng suất theo trục của neo là số liệu kiểm tra hiệu quả của neo và cường độ của neo, can cứ tỉ số cường độ cực hạn của neo và ứng suất của neo (hệ số an toàn) túc là ta có thể phán đoán được chất lượng của neo. ứng suất theo trục của neo càng lớn thì k càng nhỏ. Nói chung người ta cho là trị số k của đoạn cục bộ của neo nhỏ hon 1 thì cho phép vì thép có tính dẻo nhất định. Mức độ cho phép của trị số k nhỏ hon 1 tại các đoạn cục bộ của neo phải là ứng suất theo trục của neo không vượt quá cường độ phá hỏng. Néu ứng suất theo trục của neo vượt quá cường độ phá hỏng thì phải ưu tiên xem xét thay đổi vật liệu làm neo, tức là dùng thép cường độ cao. Đương nhiên tăng thêm số lượng neo hoặc tăng đường kính neo cũng có thê đạt được hiệu quả giảm thấp ứng suất dọc trục của neo.
5. Phân tích và phản hồi áp lực của vi nham
Từ đường cong phân bố áp lực của vi nham ta có thể biết áp lực của vi nham lớn hav bé và tình hình phân bố. Áp lực của vi nham lớn hay bé có quan hệ mật thiết với lượng chuyển vị của vi nham và độ cứng che chống. Áp lực của vi nham lớn sẽ tác dụng một áp lực lên hệ che chống lần đầu lớn. Ở đây có thể xảy ra hai loại tình huống: áp lực vi nham lớn nhưng biến dạng không lớn, nó chỉ rõ thời cơ che chống, nhất là thời gian bịt đáy bằng che chống có thể quá sớm hoặc độ cứng của hệ che chống quá lớn, cần phải điều chính một cách thích đáng, để cho vi nham phóng thích ứng suất nhiều hơn; còn một loại tình huống khác là áp lực vi nham lớn và lượng biến dạng cũng rất lớn, lúc ấy cần tăng cường che chống, hạn chế biến dạng của vi nham, khống chế áp lực vi nham. Khi đo được áp lực của vi nham rất bé nhưng lưcng biến dạng lại rất lớn thì cần xem xét khả năng đã xuất hiện sự mất ổn định của vi nham.
6. Phân tích và phản hồi của ứng suất lóp phun
ứng suất lóp phun là chỉ ứng suất tiếp tuyến, bởi vì ứng suất hướnp theo đường kính của lóp phun không lớn lắm. ứng suất lóp phun có quan hệ mật thiết với áp lực vi nham và chuyển vị của vi nham.
Nguyên nhân của ứng suất lóp phun lớn có hai mặt: một là do áp lực và chuyển vị lớn; hai là do che chống không đủ.
Trong thực tế công trình, nói chung cho phép lớp phun có một số vét nứt cục bộ, nhung không thể có vết nứt rõ rệt, hoặc bị bóc rời, hoặc phồng lên v.v… Néu ứng suất lóp phun quá lớn, hoặc xuất hiện vết nẻ rõ rệt, thì cần tăng thêm bề dày lóp phun ban đầu. Neu tầng phun đã khá dày, thì không nên tăng thêm bề dày lóp phun nữa, mà căng thêm neo, điều chỉnh phuơng pháp thi công, thay đổi thời gian bịt đáy v.v…
2. Phân tích và phản hồi mặt đất bị lún
Đối với đường hầm nông, do việc đào đường hầm mà dẫn đến lóp đất đá phủ bị lún, làm cho kiến trúc trên mặt đất bị hư hỏng và làm thay đổi địa hình trên mặt. vì thế, đo đạc giám sát và khống chế mặt đất bị lún đối vói các đường hầm nông trên mặt đất có các loại kiến trúc và đường ngầm trong thành phố là rất quan trọng.
Nếu kết quả đo đạc chứng tỏ đất mặt lún không lớn, có thể hạn ché được, thì rõ ràng các tham số che chống và biện pháp thi công đều thích đáng. Nếu lượng đất lún nhiều và càng ngày càng tăng lên, thì cần phải tăng cường che chống và điều chỉnh biện pháp thi công, như phun thêm bê tông một cách thích đáng, lắp thêm neo, bố trí thêm mạng lưới cốt thép, gia thêm hệ che chống bằng thép, che chống vượt lên trước, hoặc rút ngắn số thước đào trong tuần hoàn, sớm xây vòm bịt đáy, có khi phải phun sớm vữa xi măng cát để gia cố vi nham trước.
Ngoài ra, cần chú ý quan trắc đất mặt chuyển vị ngang đối với đường hầm nông. Vùng đất mặt chuyển vị ngang phát sinh trong công trình đường hầm nông chịu áp lực lệch, cách xử lý khá phức tạp, cần nghiên cứu cách chống lại áp lực lệch.
3. Phân tích và phản hồi tốc độ sóng âm thanh
Tốc độ sóng âm thanh trong vi nham phản ánh một cách tổng họp đặc trưng cơ lý và thay đổi động thái của vi nham. Dựa vào đường cong V – L có thể xác định phạm vi vùng rời rạc của vi nham, trong công trình cần chú ý lấy các kết quả trên cùng đối chiếu với số liệu đo đạc chuyển vị bên trong của vi nham, tổng họp, phân tích và phán đoán tình hình long ròi của vi nham nhằm cung cấp số liệu để sủa đổi các tham số che chống và thực tế để chỉ đạo việc điều chỉnh các biện pháp thi công.