Phòng nước cho vỏ hầm (P2)

2. Đệm bịt kín đàn hồi ghép lớp.
Đệm bịt kín ghép lóp do nhiều loại vật liệu ghép lại mà thành, ví như chế phẩm bằng cao su bọt, chế phẩm băng dính có tính đàn hồi và bịt kín cao làm vật liệu chính, bên ngoài lại bọc một lóp phủ dính kết và kín nước tốt. Vật liệu chính phần lớn dùng cao su cloropren được chế tạo thành bọt xốp. Lóp phủ ngoài là băng tự dính quang dầu hoặc là loại băng dính polivynyl chloride (PVC).
Ưu điểm của đệm bịt kín đàn hồi ghép lóp là có tính đàn hồi cao chịu được lực lặp đi lặp lại, và tính dính kết bền, vật liệu chính vẫn bảo đảm tính kín nước cho dù mối nối cho nới rộng
ra chút ít. Tính tự dính kết của lóp băng phủ ngoài giúp cho sự bịt kín giữa nó và bê tông và giữa các lóp bịt kín càng thêm kín khít vững chắc.
Hình 5.31 trình bày một số loại đệm bịt kín đàn hồi ghép lóp. Cũng cần nói thêm rằng, khi thi công gặp những mối nối vòng khá lớn, nếu dùng những vật liệu trên thì rất khó giải quyết được. Năm 1977 Nhật Bản đã sáng chế ra băng tự dính bằng cao su có thể khắc phục khuyết điểm trên. Xí nghiệp cao su cung cấp các chế phẩm ấy theo băng vòng tròn, khi lắp ráp đường ống xong sẽ dùng thủ công dán chặt vào các khe nối vòng quá cỡ (hình 5.32). Như vậy sẽ có tác dụng bịt kín lấp bằng, hoãn xung và nén giữ.

b. Phòng nước bằng xám mối nối
xảm mối nối phòng nước là biện pháp bổ sung chủ yếu cho đệm kín bịt mối nối. Thường dùng vật liệu phòng nước cho vào khe dọc và khe vòng của phiến ống xảm thật chặt đê đạt được mục đích phòng nước như hình 5.33. 
Vật liệu xảm mối nối phải có tính không thấm nước, tính dính kết, tính bèn, tính dẻo, tính chốnp xâm thực, tính chống lão hoá tốt, có tính dàn hồi chống được biến dạng nhất định, đặc biệt phải dính kết tốt được với bê tông ẩm ướt, không bị chảy và xệ xuống, tiện lợi cho thi công dưới trạng thái ẩm ướt. Hiện nay, thường dùng nhiều các loại: nhựa cao su tông họp, keo nhựa tổng hợp lưu hoá, nhựa polyxơtyren, cao su ammonium nhân tạo. Nếu dùng vỏ hầm hai lóp thì có thể dùng xi măng thường hoặc keo xốp để xảm. Vật liệu cao su nhân tạo lẫn hắc ín cũng là vật liệu xảm có hiệu quả tốt bảo đảm được tính thích ứng nhất định đối với biến dạng các mối nối cúa phiến ống. Ngoài ra người ta còn dùng các băng cao su đúc sẵn để làm vật liệu xảm, rất thích họp với phiến ống tròn đã lắp ráp với độ chính xác cao, lại có thể thay đổi tiện lợi, lại không bị ô nhiễm môi trường khi xảm. Nhưng khi gặp mối nối hình T hay hình chữ + thì gặp khó khăn nên cần có biện pháp khác để khắc phục.
xảm mối nối vỏ hầm chỉ được tiến hành sau khi đã hoàn thành lắp ráp vỏ hầm được một thời gian ngắn, tức là tránh không cho lực đẩy khiên ảnh hưởng đến các phiến ống, đợi cho biến dạng đã ổn định mới tiến hành xảm mối nối.
Hiện nay, ở nước ngoài đã phát triển một loại phương pháp xảm mối nối đơn giản: trước tiên quét một ít keo nhân tạo vào mối nối, sau đó xảm vào một thỏi cao su có hình thù khác nhau kích thước vừa vặn với khe nối (hình 5.4). Lục phục hồi lại nguyên dạng của loại cao su đó, có thể hu hút được các chấn động sản sinh trong thời kỳ vận doanh sau khi hoàn thành đường hầm.
c. Phòng nước cho lỗ bu lông
Sau khi lắp ráp phiến ống xong, nếu đệm bịt kín bên ngoài mối nối lỗ bu lông phiến ống có hiệu quả chặn nước tốt, thì nói chung không thể phát sinh thấm nước từ lỗ bu lông. Nhưng khi đệm bịt kín không còn tác dụng nữa và lỗ bu lông trên bộ phận lắp ráp phiến ống bị long ròi, sẽ phát sinh thấm nước, vì thế cần tiến hành xử lý chuyên môn phòng nước cho lỗ bu lông.
Hiện nay người ta dùng phổ biến cao su, hoặc pôlyêtilen và cao su tổng hợp chế tạo thành vòng đệm bịt kín hình tròn, nhờ tác dụng lèn ép khi xiết chặt bu lông, làm cho chất keo lọt vào trong lỗ bu lông, phát huy tác dụng chặn nước (hình 5.35).
Trong đoạn hầm đường vòng, khi cắm bu lông vào lỗ trên phiến ống thường bị lệch, sau khi xiết bu lông xong, vòng đệm phòng nước bị nén 
cục bộ. dễ tạo thành lọt nước, lúc ấy có thể dùng phương pháp phòng nước như trong hình 5.36. Phương pháp đó là dùng một chụp nhôm hình cốc xung quanh mũ ốc, lấy keo dàn hồi trát kín. dùng clê chuyên dụng xiétchặt, đợi cho vât liệu cúng lại. tháodỡchụp nhôm, cách này chặn nước rất tốt.
ơ Nhật người ta dùng ống luồn lỗ bu lông bằng chất déo (hình 5.37). Khi đúc bê tông, để sẵn vào trong lỗ bu lông, kết họp với đệm bịt kín phòng nước hiệu quả khá tốt
d. Phòng nước bằng xây vỏ hầm lần thứ hai
Khi lắp phiến ống làm một tầng vỏ hầm mà biện pháp phòng nước cho mối nối không thể thoảmãn yêu cầu ngăn nước hoàn toàn, thì có thê đổ thêm một lóp bê tông hoặc bé lông cốt thép làm vỏ hầm lần thứ hai, tạo thành hai lóp vó hằm nhằm phù hợp yêu cầu phòng nước của vỏ hầm.
Trước lúc đỏ vỏ hầm lần thứ hai, cần tiến hành tu sứa chống thấm cho các bộ phận bị thấm, rửa sạch các vết bân trên vách phiến ống, tốt nhất đục vết. Khi vỏ phiến ngoài dã ớ thế ổn định, ta có thể tiến hành thi công vỏ hầm lần thứ hai.
Làm vó hầm lần thứ hai có nhiều cách khác nhau.
Có cách dúc ngay vó hầm lần thứ hai trực tiếp lên trên vỏ hầm phiến one lần thứ nhất; có cách đổ một lóp là phẳng 15 -ỉ- 20mm xong, trên dán một lóp giấy dầu hoặc dán cuộn phòng nước bằng cao su tổng hợp, rồi mới đổ bê tông lên làm vỏ hầm lần thứ hai.
Chiều dày vò hầm lần thứ hai dựa vào yêu cầu phòng nước và sự chịu lực cần thiết của vỏ hầm lần này quyết định, nói chung vào khoảng 150 -ỉ- 300mm.
Đổ bê tông vó hầm lần thứ hai thường được tiến hành bằng xe cốp pha thép phối họp với bơm dấy và rải bê tông. Chiều dài mỗi đoạn đổ bê tông khoảng 8 -r- 10m. Do khi đổ bê tông, chất lượng dinh vòm rất khó bảo đảm dễ hình thành khe rỗng, cho nên trên đỉnh vòm phải chừa lại một số lượng lỗ nhất định để phun vữa xi măng cát tăng cường vè sau. Ngoài ra, cũng có thể dùng cách phun bê tông để tiến hành thi công vỏ trong.
Vỏ hầm một lớp hoặc vỏ hầm hai lóp đều có đặc điểm riêng. Dùng hai lóp vỏ thì phải bảo đảm kết cấu toàn khối nhằm đạt được cùng chịu được tải trọng và phòng nước. Nhưng trái lại phái tăng mặt cắt dào. tăng thêm khối lượng đất đào, trình tự thi công phức tạp hơn; thời hạn thi 
công kéo dài; vật liệu tốn thêm nhiều; giá thành cũng tăng lên khá lớn. Hiện nay phần lớn các quốc gia đang nghiên cứu giải quyết kỹ thuật vỏ hâm một lóp mà vân phòng được nước tôt, dân dần dùng vỏ hầm một lóp phòng nước thay thế cho hai lóp vỏ hầm phòng nước, đê nâng cao hiệu ích kinh tế xây dựng đường hầm.