Phòng nước cho vỏ hầm

Vỏ hầm ngoài việc thoả mãn yêu cầu về cường độ và độ cứng kết cấu ra, còn phải giải quyết tốt vấn đề phòng nước để bảo đảm cho hầm có môi trường công tác thật tốt trong thời kỳ vận doanh. Nếu không, do vỏ hầm thấm nước sẽ dẫn đến: phá hoại kết cấu do mòn gỉ, thiết bị chiếu sáng kém đi, nguy hiểm cho chạy xe và ảnh hưởng ngoại quan. Ngoài ra trong thi công bằng khiên, cũng cần ngăn chặn nước bùn từ các khe nối chảy vào hầm làm cho hầm bị lún không đèu và biến dạng ngang mà tạo thành sự cố.
Thi công phòng nước cho vỏ hầm chủ yếu là giải quyết vấn đề phòng nước của bản thân phiến ống và vấn đề phòng nước cho mối nối các phiến ống.
1. Phòng nước cho bản thân phiến ống
Thi công phòng nước cho bản thân phiến ống chủ yéu thoả mãn yêu cầu chống thấm của bê tông phiến ống và yêu cầu độ chính xác khi ché tạo phiến ống.
a) Yêu cảu chống thấm cho bê tông phiến ống
Do tác dụng của áp suất nước ngầm, yêu cầu vỏ hầm trong địa tầng ngậm nước cần phải có năng lực chống thấm nhất dịnh để ngăn chặn nước thấm vào vỏ trần, vì thế trong khi thi công phải làm tốt mấy mặt sau: Trước tiên cần dựa vào chiều sâu đặt hầm và áp suất nước ngầm, đưa ra chỉ tiêu chống thấm họp lý về kinh tế; cấm dùng cấp phối kín đặc đế đúc bê tông 
phiến ống. Khi có quy định của thiết kế cần dựa vào thiết kế để đúc, khi thiết kế không quy định rõ ràng thi công theo tiêu chuẩn kín đặc cao nhất (Bg). Ngoài ra cần khống chế chặt chẽ tỷ lệ nước/xi măng (nói chung không lớn hcm 0,4), còn có thể trộn thêm chất giảm nước để hạ thấp tỷ lệ nước/xi măng; khi <■ ản xuất phiến ống cần đề ra công nghệ hợp lý như: phương thức đầm, điều kiện dưỡng hộ, thời gian tháo cốp pha, đề phòng vét nứt do ứng suất nhiệt độ v.v… cần có chế độ kiểm tra chặt chẽ đối với sản xuất phiến ống và hạ thấp tỷ lệ hư hỏng trong quá trình xếp kho, vận chuyên và lắp ráp.
b) Yêu cầu độ chính xác chế tạo phiến ống.
Khi ché tạo phiến ống, dùng cốp pha thép có độ chính xác cao, giảm thiêu sai số ché tạo là biện pháp đáng tin cậy nhất để mối nối giữa các phiến ống được kín khít không phát sinh khe hở ban đầu lớn. Ngoài ra, nếu độ chính xác phiến ống không bảo đảm thì khi lắp ráp bị vênh váo vỡ nát dẫn đến lọt nước. Trước kia, phiến ống bằng bê tông cốt thép không theo kịp phiến ống gang hay phiến ống thép, chủ yếu là vì độ chính xác chế tạo phiến ống bê tông cót thép không được bảo đảm nên gây ra lọt nước vào đường hầm.
Đe bảo đảm độ chính xác chế tạo phiến ống bê tông cốt thép thì máy móc gia công cốp pha thép phải có độ chính xác cao. Đe đảm bảo cho cốp pha thép có độ cứng đầy đủ trong quá trình sử dụng lâu dài không bị biến dạng, nói chung yêu cầu cốp pha thép phải nặng hơn phiến ống.
Sai số về kích thước độ chính xác chế tạo các bộ phận phiến ống có thể tham khảo quy phạm của Nhật trong bảng 5.6 và theo yêu cầu kích thước như hình 5.28.
2. Phòng nước cho mối nối phiến ống
Mục đích chủ yếu của việc bảo đảm độ chính xác chế tạo phiến ống nói trên là làm cho mặt tiếp xúc các mối nối bám sát vào nhau không phát sinh khe hở lớn ban đầu. Nhung cho dù mặt tiếp xúc sít sao bao nhiêu chăng nữa, mà không có biện pháp phòng nước vẫn không thể bảo đảm cho mối nối không lọt nước. Hiện n ay biện pháp phòng nước cho mối nối chủ yếu có các loại như: phòng nước bằng đệm bịt kín, phòng nước bằng xảm mối nối, phòng nước cho các lỗ bu lông, phòng nước bằng xây vỏ lần thứ hai.
a) Phòng nước bằng đệm bịt kín
Mối nối phiến ống có hai loại: mối nối vòng tròn và mối nối dọc. Phòng nước bằng đệm bịt kín là biện pháp chủ yếu của phòng nước cho mối nối, nếu đạt hiệu quả tốt có thể bỏ qua phòng
nước bằng cách xảm hoặc chỉ xảm ở một vài bộ phận. Đệm bịt kín phải có năng lục chịu nén đầy đủ (đệm bịt kín mối nối dọc chịu nén thấp hon so vói mối nối vòng tròn). Lực đàn hồi và lực dính két làm cho đệm bịt kín vẫn giữ được tính năng biến dạng đàn hồi dưói tác dụng lặp đi lặp lại của các kích của khiên. Đệm bịt kín có hai loại chế phẩm: loại bất định hình và loại định hình.
Loại chế phẩm bất định hình có dạng nước hay cao để quét hay trát ở hiện trường như loại keo hắc ín và pôlyxotyren đàn hồi. Chế phẩm định hình thường dùng các loại vật liệu có độ cứng khác nhau như: cao su clorôpren thể rắn, cao su clorôpren xốp, cao su tổng họp hay cao su thiên nhiên hoặc cao su truơng nở trong nước, chế biến thành các chế phẩm có hình dáng và mặt cắt khác nhau. Các hình thức mặt cắt có nhiều loại: loại gầu ngoạm, loại hình lược v.v… Bình thường có hai loại đệm bịt kín đàn hồi được dùng nhiều nhất:
1. Đệm bịt kín đàn hồi bằng cao su lưu hoá.

Phòng nước cho vỏ hầm 1
Hình 5.29 thể hiện các loại bịt kín bằng cao su lưu hoá có tính đàn hồi cao, năng lực phục hồi lại nguyên dạng rất tốt cho dù mối nối có một độ nở nhất định, vẫn ở trạng thái óp chặt chống thấm rất có hiệu quả. Do c ác đệm được thiết kế với hình dạng khác nhau, độ mở của khe khác nhau, với các loại độ cao, bề rộng, độ kín nước thích ứng với từng loại yêu cầu, nên lắp dù có sai số thì vẫn bảo đảm được mặt tiếp xúc phòng n.rớc. Đê’ cho đệm bịt kín vào vị trí chính xác và bám chặt vào phiến ống, cần bố trí khe có gắn chất dẻo trên mép khe nối vòng hay khe nối dọc. Khe rãnh có gờ nằm dọc theo bốn phía của phiến ống tạo thành một vành, cũng có thể nửa vành (hình L) và 3/4 vành (hình n). Nói chung bọc thành vành tròn là cách bịt tốt hơn cả nhất là mối nối chữ T và chữ +.