Phương pháp cơ bản quản lý chất lượng toàn diện

Quản lý chất lượng toàn diện là dùng hệ thống quản lý khoa học đối với.toàn bộ quá trình thi công. Nó gồm có 4 bộ phận: (1) Giáo dục chất lượng; (2) Thực hiện chế độ PDCA (Plan, 
Do, Check, Action là kế hoạch, thực thi, kiểm tra, xử lý); (3) Tiêu chuẩn hoá; (4) Hoạt động của tổ kiểm tra chất lượng QC (Quality Control).
Chế độ PDCA là một tuần hoàn quản lý chất lượng. Tuỳ theo tiến triển của công trình, mà tiến hành tuần hoàn PDCA lặp đi lặp lại. Mỗi một tuần hoàn lại kiểm tra ra vấn đề chất lượng mới và tìm cách xử lý, làm cho chất lượng càng ngày càng nâng cao và lấy kinh nghiệm thành công cho vào quy phạm hoặc tiêu chuẩn, đề phòng vè sau vấn đề chất lượng như vậy không phát sinh lại; đối với vấn đề chưa thể giải quyết thì được chuyển cho tuần hoàn sau giải quyết.
Vấn đề chất lượng của các bộ phận, các cấp đều bốn giai đoạn quản lý p DCA để hoạt động, phải hình thành vòng lớn luồn vào vòng nhỏ, các vòng gắn vào nhau không được đứt đoạn, không có điểm trắng.
Chất lượng quản lý và chất lượng khống chế đều dựa vào số liệu thống kê mà có. Phương pháp thống kê thường dùng, gồm có:
1. Phép vẽ theo nhân tố chính phụ: Phương pháp này là một cách tìm nguyên nhân mấu chốt của vấn đề chất lượng qua tiến hành phân tích thống kê tình hình chất lượng không bảo đảm. Bản vẽ giúp tìm ra “số chỗ mấu chốt” ảnh hưởng đén chất lượng quản lý. Ví dụ, sau khi tiến hành điều tra chất lượng một đoạn vỏ hầm, người ta được các con số ghi trong bảng 9.1.
Dựa vào bảng trên vẽ ra liệt kê chất lượng như hình 9.11
2. Phương pháp tích nhân quả: Đây là một công cụ tìm nguyên nhân chất lượng không tốt theo phân tích quan hệ nhân quả. Từ nguyên nhân lớn cho đến nguyên nhân nhỏ phải tìm ra nguồn gốc để có biện pháp bài trừ, (hình 9.12). 
3. Phương pháp vuông góc:
Phương pháp này thông qua tần số phân bố đê phân tích nghiên cứu trình độ tập trung của số liệu và phạm vi ba động số học. Phương pháp này có thể dùng đê phán đoán và ưóc tính tình hình chầ luọng trong quá trinh sản xuất, làm căn cứ để tiến hành quản lý. Cách làm cụ thể là lấy hoành độ biểu thị đơn vị đặc tính (như trị thống kê chiều dài lỗ mìn sót lại, trị số co rút của vỏ hầm, cường độ chịu nén của bê tông đổ, cường độ chịu nén của bê tông phun v.v…), lấy tung độ biểu thị tần số.
Như hình 9.13 đã thể hiện.
Quan sát hình dạng của bản vẽ (nói chung phân bố vuông góc) phân bố của các số liệu có bình thường không, túc có thể đoán được
quá trình thi công có ổn định không. Thông qua so sánh với chỉ tiêu kỹ thuật mà phán đoán xem có hiện tượng gì khác thường không.
4. Phương pháp bản vẽ khống chế còn gọi là bản vẽ quản lý hay bản vẽ giám sát khống ché. Bản vẽ này là công cụ để tiến hành phân tích giám sát và khống chế thi công. Tức là có thể dùng để khống chế chất lượng, lại có thể dùng để khống chế tiến độ cũng như để khống chế tiêu hao nguyên vật liệu v.v…
Phương pháp vẽ và sử dụng bản vẽ khống chế: nói chung là trong tình hình bình thường, trước tiên lấy các mầu, qua tính toán tính ra giới hạn trên dưới xong, vẽ ra hình vẽ khống chế. Sau đó trong quá trình sản xuất lấy các mẫu, đo đạc có được số liệu vẽ trên bản đồ khống ché. Nếu các điểm rơi vào trong giới hạn, thì chứng tỏ quá trình sản xuất bình thường, không hề phát sinh phế phẩm, cho dù có phát sinh phế phẩm thì số lượng cũng ở trong phạm vi cho phép. Nếu các điểm vượt qua giới hạn khống chế, thì chứng tỏ công nghệ đã phát sinh điều kiện thay đổi không bình thường, quá trình sản xuất có vấn đè, có thể phát sinh một số phế phẩm, cần có biện pháp xử lý làm cho sản xuất trở lại bình thường.
3. Công tác cơ bản kỹ thuật quản lý chất lượng toàn diện
1. Quán triệt và chấp hành tiêu chuẩn quy phạm
Quản lý, kiếm tra, đánh giá chất lượng công trình và cóng tác chất lượng trước tiên phải có
tiêu chuẩn chất lượng công trình và tiêu chuẩn công tác chất lượng Đẩy mạnh tiêu chuân hoá là cơ sở đế triển khai quản lý chất lượng toàn diện.
Hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng và bảo đảm chất lượng quốc tế ISO 9000, và cả các hệ thống chất lượng mà Nhà nước và đơn vị dựa vào thực tế công trình biên soạn ra đều thuộc tiêu chuẩn quản lý.
1. Thực hành chế độ trách nhiệm
Quản lý chất lượng toàn diện là công tác của mọi người trong xí nghiệp đều phải tham gia, cho nên cần xác định và kiện toàn chế độ trách nhiệm cương vị và chế độ trách nhiệm kỹ thuật. Những việc ấy là mấu chốt xác định tiêu chuẩn của công tác chất lượng, làm cho mỗi người ai cũng đều có trách nhiệm.
2. Đo đánh giá chất lượng công tác
Đo đánh giá chất lượng công tác bao gồm: đo đạc, hoá nghiệm, phân tích kiểm nghiệm công tác kỹ thuật, cần bố trí cơ cấu chuyên trách, sắp xếp cán bộ chuyên nghiệp và trang bị máy móc dụng cụ đo đạc đầy đủ.
3. Công tác tô chức và giáo dục
Thực hiện quản lý chất lượng toàn diện cần phải có cơ cấu chuyên môn đê tổ chức các bộ phận làm công tác chất lượng lại, các thành viên trong các bộ phận cũng phải tổ chức lại, có như vậy mới bảo đảm cho công tác quản lý chất lượng biến thành hiện thực, lại có thê thống nhất quy tắc, bận nhưng không rối.
Ngoài ra, cần làm tốt công tác giáo dục quản lý chất lượng, làm cho quảng đại cán bộ công nhân viên luôn luôn tâm niệm “chất lượng là hàng đầu” ai ai cũng hiểu, mọi người đều chú ý quản lý chất lượng toàn diện, chấp hành nhiệm vụ một cách tự giác. Đó là cơ sở vững chắc đê làm tốt công tác quản lý chất lượng toàn diện.