Phương pháp nổ phá (P2)

(3) Tốc độ đào sâu V số thước đào sâu L và tác dụng che chống của mặt đào

Khoan lỗ đào sâu được chia đoạn đào sau theo tuần hoàn. Quá trình tuân hoàn của đoạn hình nường là:
Khoan lỗ. nổ phá —> Vân chuyển đá ra —> Che chống thời kì đầu

Độ sâu đào được trong môt tuần hoàn nổ phá được gọi là số tnước phá nổ tiến sâu (L); thời gian một tuần hoàn gọi là (t). Độ đào sâu được trong một ngày gọi là tốc độ đào sâu (V), lức là V = 24 L/t.
– Tốc độ đào sâu nhanh hay chậm cần thòa mãn yêu cầu về thời hạn. Dùng cách chọn số thước đào sâu lớn hoặc thời gian tuần hoàn tưcmg đối ngắn đều có thể đạt được tốc độ đào sâu khá nhanh, tốc độ đào sâu tăng nhanh, một mặt càn đầu tư máy móc và nhân lực thi công, còn một mặt khác tiết kiệm được thời gian thi cỏng. Trong thực tế công ‘rình, vói điều kiện thỏa mãn yêu cầu thời hạn thi công, cần tổng hợp, càn nhắc, thận trọng lựa chọn tốc độ đào sâu. ví như ở Trung Quốc, trên một dường sắt luyến đói, đào lò bằng 26 m\ nham thíichcấp V, bố trí cỗ xe ba máy đàc thủy lực kiểu khung cửa khoan lỗ, máy xúc đá kiêu gàu, toa xe goòng vận chuyên đá ra, số thước đào sâu 4,5 m, thời gian tuần hoàn 6 giờ- 7 giờ, tốc độ đào sâu cao nhát mỗi tháng đạt được 456 m. Trong ba năm, một đàu đào sâu được 9500 m, bình quân mỗi tháng đào sâu 264 m.
– Khi xác định được tốc độ đào sâu xong thì việc lựa chọn số thước đào sâu và thời gian một tuần hoàn, chủ yéu bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau: tính ổn định của đá, tác dụng che chống mặt dào, .lặt cắt đào to hay nhỏ, diều kiện che chống, r.ăng ‘uc bố trí máy móc VÌ1 trình độ tô I…ức quản lí… Có thê lựa chọn cách tiến sâu bằng số thước tuần hoàn ngắn nhiều tuần hoàn, cũng có thể dùng số thước rìến sâu nhiều và tuần hoàn ít để đào sâu.
Nhìn chung, khi tính chất ổn định của nham thạch tương đối kém (loại III trở xuống) hoặc mặt cắt dào tương đối nhỏ, hoặc điều kiện che chống tương đối kém, thì nên dùng số thước dào ngắn VÌ1 dào sâu theo nhiều tuần hoàn. Ngược lại, khi nham thạch tương đối ôn định (cáp IV và lớn hơn cấp IV), hoặc tốc độ che chống tương đối nhanh hoặc khoan lỗ và dưa ra lương đối nhanh, thì nên dùng số thước dào lớn, số tuần hoàn đào sâu ít (nô phá theo lỗ sâu). Hiện nay Trung Quốc dùng số thước nổ phá dào sâu trong công trình hầm, ngắn thì chỉ 0,5, sâu có thê đến khoáng 5 m.
– Tác dụng chống đỡ của mặt đào
Theo phương hướng đào sâu, mặt thi công đào chính diện là mặt đang đào. Nham thạch trước mặt dang dào (nham thạch trong một phạm vi nhất dinh rtiỗ chưa bị dào) có tác dụng neo giữ nhất định dối với đoạn nham thạch đã bị đào, loại neo giữ dó được gọi là tác dụng chống dỡ. Theo sự đào sâu của đường hum tác dụng chóng đỡ của mặt đang dào dần dần dịch lên phía trước và mất đi, tính ổn định của nham thạch sau đó phải nhờ vào phát huy năng lực tự
ôn định của nó và tác dụng che chống thời kì đầu.
Theo phân tích lí luận và kết quả đo đạc thục tế đã chứng minh: đối vói nham thể chung, tác dung của mặt đang đào đại thể có thể giữ được một đoạn dài bằng 1 – 3 lần đường kính hầm vượt quá phạm vi độ dài đó, thì tác dụng chống đỡ của đả có thể bỏ qua không được tính nữa (hình 2.16). Nham thạch càng nát vụn, chiều dài tác dụng chống đỡ của nó càng ngắn.

Phương pháp nổ phá (P2) 1

Hình 2.16. Tác dụng chống đỡ của mặt đang đào.

Trong quá trình thi công đường hầm tác dụng chống đỡ của mặt đang đào cần phải lợi dụng, tức là có thê và nên lợi dụng tác dụng chóng đỡ của mặt đang đào trước lúc nó tiêu tan đê làm tốt công tác che chống bảo vệ. vì thế trong thi công đường hầm cần chú ý lựa chọn số thước đào sâu thích đáng và độ dài đoạn bộc lộ cho phép. Nói chung, trong nham thạch nát vụn mèm yéu nên dùng số thước đào sâu tưcmg đối ngắn, và kịp thời che chống. Nếu mặt đào không có tác dụng chống đỡ tức là khi tự thân không ổn định, cần có biện pháp ổn định bô trợ (xem phần sau). Chỉ khi năng lực ổn định của nham thạch khá tốt, mới cho phép bộc lộ các đoạn đào dài, túc là việc che chống bảo vệ có thể hơi lùi lại sau, để giảm thiểu việc cản trợ lẫn nhau giữa đào và che chống, tăng tốc độ thi công.
(4) Đường kính lỗ mìn D
– Đường kính lỗ mìn to hay nhỏ đèu có ảnh hưởng đối với tốc độ đục đá, số lượng lỗ mìn, lượng tiêu hao đơn vị thuốc nổ, mức độ bằng phẳng của đường hầrt, độ to nhỏ của cục đá bắn ra. Khi đường kính lỗ mìn và đường kính gói thuốc tương đối lớn, thì có thể giảm thiểu số lượng nổ mìn, làm cho thuốc nổ tương đối tập trung. Nhưng khi đường kính lỗ mìn quá lớn thì tốc độ khoan lỗ hạ thấp một cách rõ rệt, thuốc nổ tương đối tập trung, đá bắn ra sẽ to, độ bằng phẳng của vách hầm không tốt và mức lay động do nổ phá đối với nham thạch tương đối nghiêm trọng, vì thế cần căn cứ vào địa chất, năng lực khoan đá, tính năng thuốc nổ và một số điều kiện khác để cân nhắc một cách tổng hợp, lựa chọn hợp lí đường kính lỗ mìn.
– Đường kính gói thuốc ộ to hay nhỏ cần phải ăn khớp tương đối với đường kính lỗ mìn đê tránh phát sinh hiệu ứng đường ống dẫn đến gói thuốc không nổ.
Trong công trình nổ phá thường dùng hệ số không trùng hợp X để khống chế đường kính gói thuốc, hệ số không trùng hợp X = D/(ị). Hệ số này phản ánh mức độ khe hở giữa vách lỗ mìn và gói thuốc. Nói chung cần khống chế X từ 1,1 đến 1,4 và yêu cầu đường kính gói thuốc
không nhỏ hơn đirờng kính tới hạn của bao thuốc đó. Thục tế khi thiết kế nổ phá, nên dùng trị sổ X tương đối bé đối vói lỗ tạo thành rãnh và lỗ bổ trợ, để nâng cao hiệu quả nổ pha; đối vói lỗ biên có thể dùng trị số 1 tương đối lớn để giảm thiểu sự phả hoại của nham thạch xung quanh.