Phương pháp nổ phá (P3)

(7) Nô phá trơn mặt và nổ phá tạo vết nứt:
– Nô phá làm trơn mặt
Nô phá làm trơn mặt là thông qua việc điều chỉnh các tham số nổ phá của lỗ biên, làm cho nô phá trước tiên dọc theo trung tâm các lỗ hình thành một đường nứt liên tục, sau đó nham thể bị nô nứt vỡ và bắn đi theo phương hướng mặt thoáng (hình 2.20). Loại nổ phá này phát sinh ít vết nứt trong nham thạch. Ớ đây không đi vào lí luận và cơ lí của loại nố phá này, mà chỉ giới thiệu tham số và biện pháp kĩ thuật chủ yếu của nổ phá làm trơn mặt.

Hình 2.20. Cơ lí nổ phá làm trơn mặt

+ Rút ngắn khoảng cách các lỗ biên một cách thích đáng, điều chỉnh tỉ số khoảng cách trên đường đè kháng EAV.
Rút ngắn khoảng cách các lỗ biên cần phải xem xét tính chất chống nổ của nham thạch, tính năng thuốc nổ, đường kính lỗ mìn, và lượng lắp thuốc nổ mà quyết định, nói chung lấy E = (8 -r- 18) cm; w = 40 cm -í- 70 cm. Khi lựa chọn, đối với nham thạch cứng nên nên lấy trị số E nhỏ, đối với nham thạch mèm nên lấy trị số E lớn.
Đê đảm bảo việc hình thành đường nứt liên tục giữa các lỗ, cần làm cho đường đè kháng nhỏ nhất lớn hơn khoảng cách giữa các lỗ mìn, nói chung nên lấy E/W = 0,8 là tốt nhất, tức w SK 50 cm -T- 90 cm.
+ Lựa chọn phẩm loại thuốc nổ, lượng thuốc nổ và kết cấu lắp thuốc họp lí
Dùng thuốc nổ phá làm bóng mặt, nếu so sánh với thuốc nổ nổ phá chính, cần chọn loại tốc độ nổ thấp, độ mạnh thấp, sức nổ khá lớn, tính năng chuyền nổ tốt. Nhưng lỗ đáy thì nên lựa chọn loại thuốc có sức nổ lớn, thì có thể khắc phục được sức đè của đá phủ và có tác dụng lật đá vỡ, lượng thuốc nổ lắp vào lỗ biên cần có năng lực phá nham thạch, mà không gây phá hoại nhiều đến nham thạch xung quanh, trong thi công cần căn cứ vào các nhân tố: khoang
cách lỗ E, độ dày lớp làm bóng tức là đường đè kháng nhỏ nhất w, chất đá và loại thuốc nổ… đế cân nhắc lựa chọn và điều chỉnh.
Nói chung, lượng lắp thuốc theo đơn vị dài của lỗ mìn nên khống chế trong phạm vi 0,04 kg/m -ỉ- 0,4 kg/m, được gọi là độ chặt lắp thuốc theo đơn vị dài.
Két cấu lắp thuốc của lỗ biên, có thể dùng gói thuốc đường kính nhỏ lắp liên tục hoặc lắp thuốc cách đoạn. Hệ số không trùng họp X của đường kính lỗ mìn và đường kính gói thuốc có thể khống chế trong khoảng 1,25 -ỉ- 2,0. Nhưng đường kính bao thuốc không được nhỏ hơn đường kính tới hạn của thuốc nổ, để bảo đảm chuyền nổ ổn định. Khi cần thiết dùng dây dẫn nổ chuyền nổ (lắp nối tiếp trong lỗ).
+ Bảo đảm cho lỗ biên đồng thời gây nô:
Căn cứ đo đạc, nếu sai số thời gian gây nổ của các lỗ mìn vượt quá 0,1 giây, thì coi như gói thuốc nổ độc lập, không thể hình thành vết nứt liên tục.vì thế, yêu cầu lỗ biên phải dùng loại kíp đồng thời gây nổ, nếu cần phải dùng nhóm kíp nổ chậm có độ chính xác cao hoặc dùng dây dẫn nổ đê chuyển nổ trong lỗ.
Trình tự phân khu để gây nổ: lỗ tạo rãnh – lỗ bổ trợ – lỗ biên – lỗ đáy.
Lỗ bổ trợ thì cần phải gây nổ theo vòng hoặc theo tầng lóp từ trong ra ngoài.
Đê’ cho nổ phá tạo mặt trơn có hiệu quả tốt, ngoài yêu cầu trên ra, lại cần làm cho lỗ mìn bổ trợ sau khi nổ xong có hình dạng gần với chu vi đào, có nghĩa là phải làm cho độ dày lóp nổ làm trơn bằng nhau; và cần phải chú ý lóp đá nổ ra trước không che kín mặt thoáng của lỗ biên. Ví dụ thực tế nổ phá làm trơn mặt xem hình 2.19.
– Nổ phá gây vét nứt
Thực chất nổ phá gây vết nứt cũng là một loại nổ phá làm trơn mặt. Nguyên lí nổ phá của chúng cũng giống nguyên lí nổ phá làm trơn mặt, chỉ có trình tự gây nô’ theo phân khu là khác nhau. Trình tự phân khu để gây nô’ của nổ phá gây vết nứt là: lỗ biên – lỗ tạo rãnh – lỗ
bô’ trợ – lỗ đáy.
Cự li lỗ biên của nô’ phá tạo nứt E và độ dày vành nham tầng trong chỗ cần lưu lại đều lắp thuốc tương đối ít hơn so với nổ phả tạo phẳng, thuốc nô’ phân bố tương đối đồng đèu, lay động và phá hoại đối với nham thạch vây quanh tương đối nhỏ. Do sự tồn tại vét nứt nối liền càng làm cho sóng ứng suất do nô’ phá chính sản sinh, khi chuyền vào trong nham thạch vây quanh bị yếu đi phần lớn, do đó mà sự giảm thiểu lay động đối với nham thạch vây quanh càng có hiệu quả, cho nên nổ phá tạo vét nứt càng thích hợp với vị trí mà tầng đá nát vỡ mèm yếu đi có tính ổn định tương đối kém.