Quảng trường đô thị

1. Các loại quảng trường
Quảng trường trong đô thị tuỳ theo chức năng được phân loại như sau :.
– Quảng trường chính đô thị hay còn gọi là quảng trường trung tâm là không gian trước các công trình công cộng của đô thị, nơi có thể tổ chức các cuộc mít tinh biểu tình lớn, nơi hội tụ của nhiều trục đường chính của thành phố. Ví dụ Quảng trường Ba Đình là quảng trường chính của thủ đô Hà Nội. Quảng trường đỏ ở Moskva, quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh

– Quảng trường trước trung tâm công cộng là không gian phía trước các công trình công cộng lón của đô thị, trước các ga, cảng. Ỏ đây cũng có thể là một đầu mối hội tụ của các trục đường chính, hoặc cạnh các trục đường chính, cộ bố trí các bãi đỗ xe, bến xe, vườn hoa…
– Quảng trường giao thông là không gian ở đầu mối các đường giao thông cùng cốt hoặc lập thể. Tuỳ theo số lượng giao nhau của các tuyến đường và vị trí địa lí cụ thể để tổ chức không gian kiến trúc của quảng trường.
Thành phố Paris có rất nhiều quảng trường kiểu này và đã làm cho thành phố có được những nét rất đặc trưng (có quảng trường hội tụ đến 12 đường phố với bán kính hàng trăm mét).
2. Quy mô quảng trường
– Quy mô quảng trường không có chỉ tiêu cụ thể. Các chỉ tiêu phụ thuộc chủ yếu vào hình thức tổ chức trên quảng trường và tính chất sử dụng của nó.
– Quảng trường trung tâm thường có quy mô 1,5 4- 2,5 ha cho thành phố lớn và từ 0,5 + 1,5 ha cho thành phố vừa và nhỏ. Các thành phố Thủ đô do yêu cầu tập trung số lượng người đông trong các dịp sinh hoạt chính trị nên quy mô thường lớn hơn nhiều (quảng trường Ba Đình có quy mô 3 ha, dự kiến mở rộng đến 6 ha). Diện tích quảng trường không nên quá lớn làm mất tỉ lệ.
3. Hình thức tổ chức quảng trường
Hình thức quảng trường rất phong phú đặc biệt là quảng trường trung tâm với các công trình kiến trúc tiêu biểu. Bố cục quảng trường dựa trên cơ sở bố cục không gian các công trình kiến trúc trên quảng trường. Chiều rộng quảng trường không nên quá 4 lần chiều cao công trình.
Hình dáng quảng trường tuỳ theo địa hình đất đai và hưđng hội tụ của các trục đường.
Ỏ quảng trường giao thông vấn đề tổ chức các tuyến xe đi lại rất quan trọng, cần bảo đảm xe lưu thông nhanh chóng, an toàn.
Đường đi bộ qua quảng trường cần tổ chức đường ngầm hoặc cầu vượt nhằm giảm bớt sự giao nhau giữa các tuyến đường của người và xe.
Tổ chức quảng trường giao thông cần dựa trên cơ sở tổ chức hợp lí các nút giao thông thành phố. Nút giao thông là chỗ giao nhau của nhiều tuyến đường. Việc tổ chức nút giao thông cần bảo đảm yêu cầu thông suốt, an toàn và nhanh chóng cho hoạt động của các phương tiện giao thông.

* Nút giao thông cùng cốt :
– Nút thường không có hệ thống điều chỉnh giao thông : là hình thức giao nhau của các đường phố có lưu lương thông xe nhỏ (không quá 500 xe/h, theo kinh nghiệm của Nga, Đức quy định tối thiểu là 750 xe).
– Nút giao thông tự điều chỉnh : Tại những điểm giao nhau của các tuyến đường có mật độ tương đối cao, người ta thường tổ chức đảo định hướng chuyển động của xe để phân rõ các luồng xe đi trong nút giao thông và xác định điểm xung giữa các luồng xe để người lái xe đề phòng chú ý trong khi vượt qua các điểm giao nhau đó. Phạm vi đất đai còn lại trong nút giao thông sau khi đã vạch các luồng xe là các đảo định hướng giao thông. Hình dáng các đảo phụ thuộc vào điểm giao nhau của tuyến đường, có thể là hình tròn (đảo tròn) hình vuông, tam giác. Bán kính của đảo tròn phụ thuộc vào số lượng đường gặp nhau tại nút giao
thông và tốc độ xe đi qua, nói chung đảo tròn càng lớn càng cho phép xe qua với tốc độ nhanh hơn. Nếu 4 đường giao thông đi tới nút, bán kính đảo tròn tối thiểu là 25 m.

* Nút giao thông khác cốt :
Khi các tuyến giao thông có lưu lượng xe rất lớn gặp nhau, nút giao thông cùng cốt không bảo đảm an toàn về tốc độ chuyển động của xe, người ta thường dùng kiểu nút giao thông khác cốt.
Hình thức này rất thuận tiện, an toàn giao thông đồng thời bảo đảm tốc độ và lưu lượng xe qua lại không bị gián đoạn (tốc độ xe và lưu lượng xe qua lại không thay đổi so với toàn tuyến đường) khi thay đổi hướng xe chạy. Nút giao thông khác cốt đòi hỏi kĩ thuật Xây dựng phức tạp và giá thành cao. Nút giao thông khác cốt thường có các dạng nút hai tầng và nhiều tầng (hình 126).

Giao thông đưòng thủy
Hầu hết các đô thị được xây dựng gần sông, biển và hồ. Từ xa xưa, giao thông đường thuỷ đã trở thành một trong những động lực mạnh thúc đẩy sự phát triển của đô thị.
Giao thông vận tải đường thuỷ có ưu điểm cơ bản là khối lượng vận chuyển lớn và giá thành rẻ. Trên thế giới đã có những cảng lớn, hàng năm vận chuyển hàng trăm triệu tấn hàng hoá, đã có những tàu thuỷ chở được hàng vạn tấn hàng ho á và hành khách.
Hiện nay đường thủy được sử dụng chủ yếu cho vận chuyển hàng hoá. Do tốc độ chậm, việc sử dụng các phương tiện giao thông khác phát triển nhanh và thuận tiện hơn, nên các tàu chở hành khách giảm và chi đi trong khoảng cách ngắn hoặc đến những nơi có vị trí địa lí đặc biệt ở hải đảo… Tuy vậy ngoài vấn đề vận chuyển hàng hoá, giao thông đường thuỷ vẫn là một hình thức rất thú vị đối với hành khách, nhất là du lịch.
Cảng và khu vực đất cảng chiếm vị trí rất quan trọng trong cơ cấu phát triển đô thị. Nó là đầu mối chính nối liền với thành phố về mặt sản xuất và sinh hoạt trong sử dụng mặt nước biển và sông hồ.
Vị trí và tổ chức cảng hợp lí bảo đảm sự phát triển bền vũng của các đô thị cảng.
/. Các loại cảng và các hình thức tồ chúc cảng
Có 2 loại cảng : – Cảng đường sông – Cảng đường biển
Về mặt chức năng sử dụng có thể phân thành :
– Cảng hành khách
– Cảng hàng ho á
– Cảng chuyên dùng (đánh cá, du lịch…)
– Cảng quân sự
V ề mặt tổ chức cảng có 2 phần :
– Phần dưới nước và bờ cảng
– Phần trên mặt đất là khu vực đất cảng.
Cảng và khu vực đất cảng phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên, độ sâu của nước và những vấn đề kĩ thuật về giao thông đường thuỷ, những chi tiêu mang tính chất quốc tế, về bảo hiểm cũng như vận hành trên cảng.
Có hai hình thức cơ bản về tổ chức cảng :
– Củng mờ : là cảng đặt ở vị trí trực tiếp với mặt nước dọc các bờ sông hoặc bờ biển theo chiều dài của bờ.
– Càng kín : là cảng nằm sâu trong đất liền nhờ có các kênh rạch tự nhiên hoặc nhân tạo. Các tàu ra vào thường phải qua một lòng lạch tương đối dài.
Những nơi có điều kiện tự nhiên cho phép : có các vịnh biển hoặc eo biển lớn không chịu ảnh hưởng của sóng, có độ sâu, có bờ cảng và phần trên đất liền bằng phẳng là những nơi tổ chức cảng rất lớn. o Việt Nam có vịnh Cam Ranh, vịnh Cái Lân là những nơi có địa hình tốt cho cảng biển.
Trong thực tế phần lớn cảng biển đều lợi dụng phần cửa sông để xây dựng câng, vừa tránh được tính hung dữ của biển cả khi thời tiết không thuận lợi vừa đi sâu được vào đất liền. Cảng Sài Gòn, cảng Hải Phòng đều là những cảng từ biển đi vào đất liền khá xa. Cảng Rotterdam, một trong những cảng lớn nhất thế giới cũng tổ chức theo hình thức này.