Quy hoạch chung xây dựng đô thị

Quy hoạch chung xây dựng đô thị xác định phương hướng cải tạo, xây dựng phát triển đô thị về tổ chức không gian và cơ cấu sử dụng đất đô thị, về cơ sở hạ tầng và mối quan hệ hữu cơ về các mặt bên trong và bên ngoài đô thị nhằm tạo
lập môi trường và khung cảnh sống thích hợp cùng với các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khác.
Đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị được lập cho một đô thị riêng biệt hoặc một hệ thống đô thị và điểm dân cư thường xuyên có quan hệ chặt chẽ với nhau về lãnh thổ, kinh tế, xã hội, dịch vụ và các mặt khác. Đồ án quy hoạch chung được nghiên cứu theo từng giai đoạn 15 -ỉ- 20 năm cho dài hạn và 5 -í- 10 năm cho ngắn hạn.
Nhiệm vụ chủ yếu của đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị là :
– Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và hiện trạng của đô thị, xác định thế mạnh và động lực chính phát triển đô thị.
– Xác định tính chất quy mô, cơ sở kinh tế – kĩ thuật và các chỉ tiêu quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị.
– Định hướng phát triển không gian kiến trúc, môi trường và cơ sở hạ tầng đô thị.
– Quy hoạch xây dựng đợt đầu 5 -ỉ- 10 năm và hình thành các cơ sở để lập các đồ án quy hoạch chi tiết và dự án đầu tư xây dựng.
– Xác lập các căn cứ pháp lí để quản lí xây dựng đô thị.
1. Quy hoạch chi tiết
Quy hoạch chi tiết cụ thể hóa ý đồ của quy hoạch chung xây dựng đô thị. Đồ án quy hoạch chi tiết phân chia và quy định cụ thể chế độ sử dụng đất đai cho từng chức năng công cộng hoặc riêng lẻ, xác định chỉ giói xây dựng, phân rõ chức năng cụ thể và tỉ trọng xây dựng cho từng loại đất theo một cơ cấu thống nhất. Ngoài ra, nó còn nghiên cứu bố trí các hạng mục công trình xây dựng trong từng lô đất nhằm nêu rõ ý đồ về bố cục không gian kiến trúc quy hoạch.
Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng thường được nghiên cứu ở tỉ lệ 1/2000 ; 1/1000 và 1/500 tùy theo quy mô và mức độ yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra.
Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch chi tiết bao gồm các mặt sau đây :
– Cụ thể hóa và làm chính xác ý đồ và những quy định của quy hoạch chung.
– Đánh giá thực trạng xây dựng, khả năng sử dụng và phát triển quỹ đất hiện có.
– Tập hợp và cân đối các yêu cầu đầu tư xây dựng.
– Nghiên cứu đề xuất các định hướng kiến trúc và bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị.
– Quy hoạch mặt bằng sử dụng đát đai, phân chia các lô đất cho từng đối tượng sử dụng và lập chi giới xây dựng, xác định tầng cao khối tích và tỷ trọng xây dựng các loại công trình.
– Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải tạo xây dựng hệ thống công trình hạ tầng kĩ thuật.
– Soạn thảo quy chế quản lí xây dựng.
– Quy hoạch chi tiết đô thị có nhiều mức độ khác nhau ềùy theo yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ thiết kế, thường có hai mức độ cần được nghiên cứu :
+ ĐỒ án quy hoạch chi tiết sử dụng đất đai.
+ ĐỒ án quy hoạch phân lô 1/2000 và 1/500 cho những khu đất dưới 20 ha.
Đồ án quy hoạch xây dựng phân lô thực chất là các dự án tiền khả thi nhằm xác định khả năng đầu tư xây dựng để thu hút ngân sách và các nguồn đầu tư xây dựng.
2. Quy hoạch hành động : (Action Planning)
Quy hoạch hành động là một loại hình quy hoạch chi tiết thể hiện cao tính khoa học trong việc phân tích và lựa chọn phương án.
Nguyên tắc của quy hoạch hành động hiện đại dược đúc kết qua kinh nghiệm trong khoảng 12 năm gần đây ở các nước phát triển. Nó đang trở thành một loại hình quy hoạch có nội dung và chất lượng cao, hỗ trợ tích cực cho việc quyết định các phương án đầu tư phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế sẵn có ở địa phương, bao gồm các khía cạnh kĩ thuật, tài chính và thể chế. Nó hướng tới sự hành động nhanh đề giải quyết các vấn đề đã nhất trí.
Quá trình của quy hoạch hành động dược biểu hiện từ đặt vấn đề, lập cơ cấu tổ chức, đặt mục tiêu nguồn lực và dự án đến việc phân tích lựa chọn ưu tiên, cũng như việc lập kế hoạch và thực hiện phương án. Quá trình này diễn ra một cách có khoa học theo phương pháp phân tích đối lực, phương pháp so sánh …
Đây là một loại hình quy hoạch mói, chưa có trong quy trình Quy hoạch đô thị ở nước ta, nó rất thực tế và sẽ giúp cho các nhà quy hoạch và quản lí đô thị một phương pháp nghiên cứu tiên tiến. Quy hoạch đô thị có thể góp phần giải quyết nhiều vấn đề bức bách của từng bộ phận quy hoạch, từng địa điểm cụ thể của đô thị kể cả khi chưa có quy hoạch tổng thể xây dựng.