Thi công tường liên tục dưới đất ( P1)

2. THI CÔNG TƯỜNG LIÊN TỤC DƯỚI ĐẤT
Vào những năm 1950 xuất hiện tường bê tông cốt thép liên tục dưới đất. Loại tường này thay thế cọc gỗ, cọc thép, cọc bê tông cốt thép truyền thống có tác dụng chắn đất, chịu lực và phòng nước.
Tường liên tục dưới đất được phân chia làm: tường liên tục dưới đất đổ tại chỗ, tường liên trục dưới đất đúc sẵn và tường liên tục dưới đất gồm hàng cọc. Hiện nay người ta ứng dụng rộng rãi công trình dưới đất làm kết cấu che chắn để đào hố móng, cũng có thể dùng làm một bộ phận của vật kết cấu dưới đất.
Do độ cứng thân tường của kết cấu lớn, tính năng chống thấm tốt, có thể thích họp với điều kiện đất mềm yếu, nên thi công ít làm xáo động khối đất xung quanh, ảnh hưởng ít đến các kiến trúc lân cận, khi thi công gây chấn động ít, không gây nhiều tiếng ồn, có thể thi công an toàn tại hiện trường chật hẹp. Nhưng, phải tuỳ theo điều kiện địa chất mà lựa chọn máy móc đào hào khác nhau và có biện pháp tương ứng bảo đảm ổn định cho vách hào.
2.1. Tường liên tục dưới đất đổ tại chỗ
Đào một đoạn rãnh hẹp và dài trong đất, lắp lồng ghép vào trong rãnh, đổ bê tông thành một đoạn tường bê tông cốt thép, nối liền từng tấm thành một bức tường liên tục dưới đất. Đó là cách thi công tường liên tục dưới đất. Dây chuyên thi công tường liên tục dưới đất xem hình 4-5

Thi công tường liên tục dưới đất ( P1)  1
Hình 4.5. Dây chuyền thi công tường liên tục dưới đất

(1) Công tác chuẩn bị
Bao gồm: biên soạn thiết kế tổ chức thi công; xét duyệt thiết kế kỹ thuật; đo đạc cắm tuyến, quy hoạch hiện trường và giải phóng mặt bằng; xây dựng công trình tạm như: đường sá, cấp nước, cấp điện và công trình lán trại…; chuẩn bị máy móc, nguyên vật liệu, lập phòng thí nghiệm và một số công tác khác, cần hoàn thành trước lúc khởi công.
(2) Vữa bùn bảo vệ vách đào
Trong việc khoan lỗ hoặc đào hào trong thi công nền móng phải dùng áp lực tĩnh của vữa bùn đê bảo vệ vách đào chống sụt lở hoặc bong ròi, giữ dược nguyên hình dạng của hào và lỗ. Đồng thời vữa bùn còn có công năng đẩy cặn bã đất đá nổi lên và đẩy ra ngoài. Sau khi hình thành được lỗ hoặc rãnh có thể hút thu hồi vữa bùn và tái sinh để dùng lại.
a. Các loại vữa bùn : vữa bùn bôi trơn trương nở, vữa bùn polime, vữa bùn CMC, vữa bùn nước muối. Chất phụ gia gồm có: chất làm rời, chất CMC tăng kết dính, chất làm tăng trọng lượng, chất vữa bùn nước muối V.V..
b. Phương pháp sử dụng vữa bùn
(a) Phương thức giữ vách: Khi gầu ngoạm đất không ngừng đổ vữa bùn mới vào, cho đến khi đổ bê tông làm cho vữa bùn trào ra mới thôi. Vữa bùn ở lại trong hào chỉ có tác dụng bảo vệ vách, không dùng đê đưa đất đá vụn ra ngoài.
(b) Phương thức tuần hoàn: Dùng bơm để làm cho vữa bùn ở đáy hố và trên mặt tuần hoàn với nhau, đem đất đá vụn bài tiết lên mặt đất. Có hai cách tuần hoàn thuận và nghịch. Cách thi công này thích họp với máy đào bằng mũi khoan.
c. Yêu cầu chất lượng vữa bùn
Khi chế tạo và sử dụng vữa bùn, cần kiểm tra kịp thời, nếu không họp quy cách thì cần xử lý kịp thời. Chỉ tiêu tính năng vữa bùn có thể phân ra: (1) Chỉ tiêu chất lượng vữa mới; (2) Chỉ tiêu chất lượng tồn kho sau 24 giờ; (3) Chỉ tiêu chất lượng trong quá trình sử dụng; (4) Chỉ tiêu chất lượng vữa bùn bỏ đi.
Khi vữa bùn đã không đạt chỉ tiêu chất lượng, thì đổ đi. Vữa bùn chưa đến mức độ bó di càn thu hồi lại, dùng sàng chấn động, máy quay hoặc bể lắng v.v… tiến hành loại bỏ cát, tái sinh đẽ dùng.
d. Thế tích các bể chứa vữa
Khối lượng vữa bùn mới cần thiết chiếm 70% -r 80% khối lượng đất đào của mỗi đoạn đào (phương pháp đào ngoặm) hoặc 80 -t- 90% (phương pháp đào hồi chuyên). Nếu gặp địa tàng đất pha cát, cần tăng lên một cách thích đáng. Tổn dung tích của các bê vữa bùn bao gồm: bể trộn vữa, bê chứa vữa bùn tốt, bể dùng lắng đọng, bể lọc sạch, bể chứa vữa phế thai. Nấu dùng một máy đào hào gầu ngoặm cần khoảng gấp 3 lần bể chứa vữa bùn cần đê dào một đoạn hào; nếu dùng máy đào hổi chuyên thì số bể chứa vữa bùn cần gấp 4 lần để đào đất.
(3) Tường dẫn.
Tường dẫn có tác dụng dẫn hướng khi đào hào, nâng cao độ thẳng đứng của tường hào; chứa vữa bùn, bảo đảm độ cao mặt bùn và giữ cho hào ổn định; che chắn đất mặt, chổng đỡ thiết bị thi công và giữ cho lồng cốt thép các ống dẫn được cố định; ngăn ngừa vữa bùn thoát di và chặn không cho đất chảy vào hào.
Tường dẫn dược chia ra các loại như sau: bê tông cốt thép đổ tại chỗ, hoặc chế tạo sẵn lắp ráp, loại có hình chữ H v.v… Thường dùng loại tường dẫn bằng bê tông cốt thép dô tại chỗ.
Chiều sâu tường dẫn thường là l,2m-r 2,Om bề rộng trong lòng lớn hơn bề rộng tường liên tục từ 5cm đến 10cm, mặt đỉnh của hào thường cao hơn mặt đất 15cm trở lên, và cao hơn mức nước ngầm khoảng 1,5m. Định vị tim hào dẫn cần dựa vào sai số về độ thẳng đứng của hào và biến vị của tường liên tục nên dịch ra một cách thích đáng, đề phòng xâm phạm giới hạn.
Hình thức tường dẫn: Dựa vào tình hình địa chất và mặt đất khác nhau mà lựa chọn các hình thức như: hình chữ nhật, hình lòng máng, hình L, hình chữ L ngược. Ở chỗ ngoặt góc thì thiết kế hình thức mặt bằng của tường dẫn thành hình chữ L, T, + (hình 4.6).
Mặt tường dẫn cần thẳng đứng, yêu cầu dộ chính xác 1/500 và bảo đảm song song với đường trục tường liên tục, sai số khoảng cách phía trong phía ngoài là 5mm, mặt đỉnh tường cao thấp chênh nhau không quá 10mm.

Thi công tường liên tục dưới đất ( P1)  1
Hình 4.6. Mặt cắt tường dẫn

Tường dẫn cần phải được xây dựng trên nền vững chắc, bộ phận đắp lại sau lưng tường phải dùng sét khô phân lóp đầm chặt. Tường dẫn phải được chế tạo liên tục. Các chỗ có dtrờng ống xuyên qua tường phải kiểm tra xử lí thích đáng.
Sau khi xây dựng tường dẫn xong, cần che chống bên trong kịp thời, đề phòng áp lực đất bên ngoài đấy tường vào trong.