Thi công tường liên tục dưới đất ( P3)

(5) Đào rãnh
– Thi công lỗ dẫn: Trước lúc thi công mảy đào rãnh gầu ngoạm kiểu con trai, đầu tiên phải khoan lỗ dẫn thẳng đứng theo khoảng cách nhất định, tác dụng của cách làm đó là nâng cao hiệu suất đào rãnh và độ chính xác thẳng đứng, cũng tiện lợi cho thi công nối đầu. Đường kính lỗ dẫn cũng là chiều dày của tường liên tục, khoảng cách giữa các lỗ dẫn là bề rộng miệng gầu khi đào. Tuỳ tình hình cụ thể của lỗ dẫn mà dùng máy khoan gầu quay, máy khoan xoắn ốc, máy khoan xung kích, máy khoan một đầu quay. 
– Phân chia và thi công cơ giới các đoạn rãnh
Việc lựa chọn chiều dài các đoạn rãnh, cần dựa vào các nhân tố như địa chất, mức nước ngầm, có hay không có các đường ống dưới đất v.v… Có chú ý xem xét tính ổn định của vách rãnh, và trọng lượng lồng cốt thép nói chung chiều dài đoạn rãnh vào khoảng 4m -4 6m Nếu tầng đất xấu có thể thêm tải trọng phụ nên khoảng 2m 4- 3m, điều kiện địa chất tốt có thể dùng đến 7m 4- 8m. Chỗ ngoặt góc cần rút ngắn lại. Cách bố trí có thể kiểu một đoạn và nhiều đoạn. Nấu bố trí nhiều đoạn khi thi công phải đào xen kẽ. (hình 4.9).
Máy đào rãnh thường được dùng nhiều nhất là máy đào rãnh gầu ngoạm kiểu con trai và máy khoan.
Khi dùng máy đào gầu quay, máy khoan xoắn ốc, máy khoan xung kích và máy khoan quay một đầu thì trước tiên cần đào một hàng lỗ khoan, sau đó dùng hình thức chồng thêm lỗ khoan để đào hết mẫu đất còn sót lại hai bên vách làm cho các lỗ thông nhau thành rãnh (hình 4.10).
– Điều cần chú ý khi đào rãnh
+ Mặt vữa bùn thường phải cao hơn mực nước ngầm 1 m, trong quá trình đào không được thấp hơn đỉnh tường dẫn 0,5m, vừa đào vừa đổ thêm vữa bùn. Khi ngừng đào cần đổ thêm vữa bùn để không thấp hơn đỉnh tường dẫn 0,2m, nhằm bảo đảm tính ổn định của đoạn hào.
+ Cơ giới chở máy đào rãnh (cần cẩu bánh xích) phải đứng cách mép rãnh không nhỏ hơn 3m, bánh xích cần thẳng góc với tường dẫn. Máy đào rãnh không được va quệt vào tường dẫn. Tất cả các máy móc khác không được dừng lại hai bên rãnh.
+ Đoạn rãnh tạm thời không đào, cần dùng thanh chống chống miệng tường dẫn
+ Dùng gầu ngoạm đất, sau khi đào xong cần tiến hành vét lỗ một lần, nếu đào gọt bộ phận nào đó thì phải dọn hết các cục bùn ở đáy rãnh. Đe tránh đào quá mức, trước lúc vét sạch đáy không nên đào đến độ cao thiết kế. 
+ Sai số về chiều sâu ở bất kỳ chỗ nối đầu nào của hai đoạn rãnh, không được lớn hon 1/3 chiều dày của tường để tránh lãng phí bê tông, rút ống đổ bê tông khó khăn ảnh hưởng đến việc đào của đoạn sau. Khi đào rãnh phải thường xuyên đo kiểm tra độ thẳng đứng của vách rãnh, kịp thời điều chỉnh.
(5) Cẩu cấu kiện nối đầu vào
Cấu kiện nối đầu: có thể dùng ống thép hàn nối đầu, bê tông cốt thép đúc sẵn, thép hình v.v… Hai đoạn đầu có thể rút lên, dừng lại. Thường dùng ống thép làm ống nối đầu còn gọi là ống khoá đầu. Trước khi cẩu vào, bề mặt ống phải bôi dầu, hết sức bảo đảm cho ống dựa chặt vào tầng đất nguyên dạng, thẳng đứng và từ từ cắm vào
(6) Xoa vách, dọn đáy
Mục đích của xoa vách, dọn đáy quét sạch các vật bẩn bám vài bộ phận nối đầu, dọn hét các cục bùn, cặn lắng xuống và vữa bùn bẩn còn đọng lại ở đáy rãnh. Những nhân tố bất lợi đó làm cho bộ phận bê tông không tốt trên mặt tăng lên; làm ảnh hưởng cường độ và tính lưu động của bê tông, ảnh hưởng đến tính chống thấm của bộ phận nối đầu; làm giảm tốc độ đổ bê tông; có thể làm cho lồng cốt thép nổi lên; làm cho vữa bùn biến chất nhanh; cặn bã lắng chìm ở đáy rãnh rất khó bị bê tông đẩy đi sẽ làm cho súc chịu tải tường liên tục đuới đất bị giảm thấp, độ lún sẽ tăng lên; cặn bã bị lắng quá nhiều ảnh hưởng đến vị trí đúng dự định của lồng thép, ảnh hưởng đến chiều cao của két cấu.
(7) Chế tạo và cẩu lắp lồng cốt thép
– Chế tạo lồng cốt thép
Lồng cốt thép chế tạo tại hiện trường trên giá mô hình, quy mô lớn hay nhỏ do chiều dài, chiều rộng của đoạn rãnh, năng lực cẩu hiện có, và tĩnh không mà quyết định, có thể chế thành một bức, hoặc phân đoạn. Lồng cốt thép phải dựa vào thiết kế mà bố trí miếng đệm tầng bảo vệ, cốt thép nổi, các linh kiện cần chôn trước v.v…
Tại hai hàng cốt thép đặt lân cận điểm cẩu lồng thép cần hàn cốt thép chống hình w vào hai cốt thép chịu lực, để giảm thiểu sự biến dạng của lồng khi cẩu lên. cốt thép đứng tại chỗ đổ bê tông ống dẫn cần đặt đúng bên cạnh ống dẫn, để giúp cho ống dẫn hoạt động lên xuống. Sai số chế tạo lồng cốt thép cần ở trong phạm vi cho phép, phải chú thích phía trên, phía dưới, phía trong phía ngoài, và số hiệu của đoạn rãnh.
b) Cẩu lồng cốt thép vào
Trước lúc cẩu cần nghiệm toán năng lực cẩu.
Đoạn dưới của lồng cót thép không được kéo lê trên-mặt đất hay va quệt; cần buộc dây giăng đề phòng lay động. Khi đưa đến miệng rãnh thì định vị lồng cho đúng, rồi hạ từ từ cho vào đúng vị trí. Lồng cốt thép cần hàn nối đầu trên miệng rãnh, trước tiên cố định tạm thời đoạn
dưới trên tường dẫn, sau cẩu đoạn trên lên đối khớp cốt thép và hành thành một khối, tiép tục cẩu vào rãnh đúng vị trí thiết kế. Lồng cốt thép phải nằm đúng vị trí chính xác (trên dưới, trước sau, bên trái bên phải. Đặt vào đúng vị trí, lồng cót thép phải được cố định chặt đè phòng nổi lên trên khi đổ bê tông. Thời gian ngâm lồng cốt thép trong nước không được vượt quá 24 giờ đê tránh giảm thấp lực bám của cót thép.

Thi công tường liên tục dưới đất ( P3) 1
Hình 4.11. Lồng cốt thép và hai móc cẩu

c) Biện pháp xử lý sự cố
(a) Để đề phòng lồng cót thép bị biến dạng và phá hoại, khi cẩu lắp phải dùng móc cẩu chính và phụ, và dùng giá cẩu nhấc lên cân bằng. Chỗ đặt móc cẩu có bố trí cốt thép chống uốn hình chữ w, các điểm cẩu trong lồng có đặt ống thép luồn ngang làm cho cốt thép chịu lục tương đối đồng đều, chỗ bị kéo rời thì phải tăng cường kịp thời.
(b) Lồng cốt thép khó lắp vào rãnh chủ yếu là do vách rãnh bị xiên lệch, mặt vách không phang, đáy rãnh có nhiều vụn đất đá lắng đọng, hoặc do lồng ghép không ngay không phẳng. Vì vậy, cần có những biện pháp bổ sung như: sửa vách, vét lỗ bào đảm độ chính xác thẳng đứng của vách rãnh; rút ngắn chiều dài đoạn rãnh; tăng thêm tỷ trọng của vữa bùn; tăng chênh lệch độ cao giữa vữa bùn và mực nướn ngầm, bảo đảm tính ổn định của vách rãnh; vét sach đáy rãnh để bảo đảm độ cao thiết kế của đáy rãnh; bảo đảm độ chính xác khi gia công lồng thép, tăng gia độ cứng chống uốn giảm thiểu biến dạng của lồng.