Thiết kế che chống tạm thời (P2)

. Lắp đặt và gíd cường hệ che chống tạm thòi
1. Dào chu vi hầm cần hét sức trơn tru, đào xong bố trí che chống kịp thời. Trước lúc lắp hệ che chống cần dọn hét các tảng đá nguy hiểm đè phòng đá rơi gây thương vong cho người.
2. Đường tâm, cao trình và kích thước mặt cắt của mỗi bức vòm chổng yêu cầu phải năm trên cùng mặt cắt ngang của đường hầm. Nối đầu của cấu kiện che chống cần phải chắc chắn, miệng đệm lót chân cần vững chắc ổn định. Giữa các bức che chống cần phải bố trí đủ liên két, tạo thành một khối. Các chêm giữa hệ che chống và vi nham cần phải đóng thật khít, thật chắc và cần phải lắp đối xứng.
2. Cần thường xuyên kiểm tra hệ che chống khi đã dựng xong, phát hiện biến dạng nghiêm trọng, nghiêng ngả , lún sụt và chêm bị long rời, cần tăng cường và thay đổi nếu cần. Thay đổi hệ chống càn trước tiên kích lên rồi sau mói thao, dế tránh cho vi nham khỏi bị long rời thêm, thậm chí sụt lở.
Thi công và ép vữa bịt vỏ hầm toàn khối
Vỏ hầm bê tông vĩnh cửu của đường hầm được thiết ké theo lí luận tải trọng long rời có bề dày tương đối khá, độ cứng cũng lớn, so với vỏ hầm ghép lớp. vì vậy, nó được gọi là vỏ hầm toàn khối. Thi công vỏ hầm toàn khối cần chú ý các điểm sau:
1. Khi dựng cốp pha đổ bê tông vỏ, nếu cần tháo dời hệ chống tạm thời thì tiến hành một cách thận trọng đê tránh vi nham không ổn định sụt lở. Phạm vi, trình tự, thời gian của mỗi lần tháo dỡ cần xem xét tính ổn định của vi nham và tình hình chịu lực của hệ chống đê quyết định. Nếu không cần tháo dỡ hoặc không thể tháo dỡ được hệ chống tạm thời thì có thê để lại sau luns vỏ hầm hoặc đúc luôn vào trong bê tông. Nhưng chỉ cho phép chừa lại cấu kiện thép trong bê tông.
2. Trong thiết kế vỏ hầm toàn khối nói chung không tính đến tác dụng chịu tải của hệ chống thép. Trên thực tế, khi hệ chống không cần tháo hoặc không tháo được, thì tác dụng chịu tải của chúng vẫn tồn tại. Nếu không tính vào sẽ có lãng phí nhất định, vì thế có người đề xuất: khi thiét kế vòm hầm vĩnh cửu toàn khối, cần tính tác dụng chịu tải vĩnh cửu của hệ chống thép và cần giảm mỏng vỏ hầm một cách thích đáng.
3. Khi dùng phương pháp thi công vòm trước tường sau, cần chú ý xử lý tốt chỗ tiếp nối giữa đỉnh tường và chân vòm, để bảo đảm độ cứng toàn khối của chúng không giảm thấp quá lớn. Việc đào các dải ngách tường phải theo đúng nguyên tắc quy định.
4. Khi thi công bằng phương pháp mỏ truyền thống, khe hở đằng sau lưng vỏ hầm còn rất nhiều, nhất là ở đỉnh hầm có tháo dỡ rất nhiều ván đóng, việc ấy không có lợi cho trạng thái chịu lực của vỏ hầm. Vì thế, cần tiến hành phun vữa xử lý sau khi bê tông vỏ hầm đạt đến một cường độ nhất định. Vật liệu ép phần nhiều dùng vữa xi măng nguyên chất. Khi khoan để phun vữa cần chú ý tránh hệ chống thép còn chừa lại.
5. Thời gian tháo cốp pha của bê tông vỏ hầm cần căn cứ điều kiện chịu lực của vỏ hầm, tải trọng to hay nhỏ và tình hình tăng trưởng cường độ của bê tông do thí nghiệm hiện trường xác định. Đe bảo đảm không vì tháo cốp pha mà dẫn đến vỏ bị biến dạng nứt vỡ, thì nói chung cần đáp ứng với các yêu cầu sau đây:
a. Đối với vòm, tường không chịu tải trọng ngoài cần đợi cho bê tông đạt đến cường độ 5,0MPa hoặc khi tháo cốp pha bè mặt và góc cạnh của bê tông không đến nỗi bị hư hỏng, và khi vỏ hàm có thể chịu được trọng lượng bản thân thì mới tháo dỡ được.
b. Khi vòm, tường chịu áp lực vi nham tương đối lớn thì phải chờ cho bê tông chỗ giáp nối hoặc vai tường đạt được 100% cường độ thiết kế thì mới tháo cốp pha được.
c. Khi vòm, tường chịu áp lực vi nham tương đối nhỏ thì néu bê tông chỗ mối nối đạt đến 70% cường độ thiết kế, mới có thể tháo cốp pha.