Thực trạng và định hướng quản lí quy hoạch và xây dựng đô thị nước ta

1. Những kết quả đạt được sau Hội nghị đô thị toàn quốc lần thứ nhất
Sau Hội nghị đô thị toàn quốc lần thứ nhất, thực hiện Chi thị 19/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, công tác Quy hoạch và quản lí xây dựng đô thị đã được đổi mới đáng kể, thể hiện trên các mặt sau đây :
a) Công tác quy hoạch và quản lí xây dựng đô thị dã góp phần tạo ra sự tăng trưởng ổn định các đô thị, bước đầu khẳng định vị trí và vai trò của đô thị trong công cuộc đổi mới kinh tế-xã hội của cả nước.
Tăng trưởng dân số thành thị ổn định từ 12,74 triệu người năm 1989 lên gần 15 triệu người năm 1995, giữ vững ti lệ đô thị hóa là 20%, mạng lưới đô thị quốc gia đã được phát triển gồm 2 đô thị loại I, 6 dô thị loại II, 13 đô thị loại III, 61 đô thị loại IV, 487 đô thị loại V, một số khu công nghiệp và đô thị mới được quy hoạch và thành lập, là cơ sở mở rộng mạng lưới đô thị quốc gia trong những năm tới.
Tăng trưởng kinh tế khu vực đô thị vừa qua khá ổn định, trung bình 12 – 15% năm. Thu nhập đầu người tăng nhanh, tại các đô thị lớn đạt khoảng 600 đôla Mĩ và vài ba trăm đôla tại các đô thị trung bình. Nguồn thu đô thị đặc biệt là các thành phố lớn đã chiếm ti lệ quan trọng trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước, khẳng định đô thị giữ vai trò quan trọng và là động lực chủ yếu dẩy mạnh quá trình cóng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Địa vị công tác quy hoạch và quản lí xây dựng đô thị đã dược khẳng định, nó có liên quan chặt chẽ đến các lĩnh vực trọng tâm quản lí Nhà nước khác về xây dụng là : quản lí quy hoạch và phát triển đô thị ; quản lí đầu tư và xây dựng ; quản lí đất đai, quản lí nhà, quản lí khai thác và sử dụng công trình đô thị.
Trên cơ sở quy hoạch xây dựng (QHXD) đô thị dược duyệt, không gian đô thị không ngừng mở rộng chiếm khoảng 0,23% diện tích đất tự nhiên của cả nước. Bộ mặt đô thị đã có những thay đổi rõ nét, nhiều công trình, đường phố, khu đô thị đã được xây dựng theo quy hoạch nhất là ở các đỏ thị lớn khối lượng xây lắp trong một năm bằng cả chục năm về trước.
b) Công tác QHXD đỏ thị đã có những đổi mới, bước đầu đã có tác dụng thiết thực, tăng cường quản lí phát triển đô thị, trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân và toàn xã hội.
Về nhận thức vị trí, vai trò của QHXD đô thị đã được nâng cao. Nghị định 91/CP ngay 17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ đã khẳng định “đồ án quy hoạch xây dựng đô thị được duyệt là cơ sở pháp lí dể quản lí đô thị ; tiến hành công tác đầu tư, xây dựng ; lập kế hoạch cải tạo, xây dựng đô thị hàng năm, ngắn hạn và dài hạn thuộc các ngành và địa phương”. Đô thị là đối tượng của quy hoạch xây dựng đô thị đã được nhận thức theo quan niệm tổng hợp với 3 điều kiện đặc trưng là tính tập trung với quy mô dân số nhất định và phải đạt tới mật độ dân số nhất định ; tính kinh tế với các ngành kinh tế chủ yếu tạo động lực phát triển đô thị phải là các ngành phi nông nghiệp và có tính xã hội cao, ở đó những người dân thành thị không do quan hệ huyết thống hoặc gia tộc cấu thành, mà họ là một cộng đồng dân cư được tạo lập trên cơ sở các mối quan hệ xã hội, đồng sử dụng cơ sở hạ tầng hoặc các công trình phục vụ tiện ích công cộng. Việc cải tạo xây dụng đô thị trước đây chủ yếu bằng một nguồn vốn Nhà nước, cấp phát thông qua biện pháp kế hoạch hóa, nay có sự tham gia của nhiều nguồn vốn được huy động thông qua các chương trình và dự án đầu tư có mục tiêu rõ ràng đã làm thay đổi địa vị và chức năng của quy hoạch xây dựng đô thị, như là một biện pháp phối hợp và tạo điều kiện để huy động mọi nguồn lực lớn, nhỏ vào cải tạo và xây dụng đô thị.
Nội dung và phương pháp lập QHXD đô thị bưốc đầu được đổi mới, phù hợp với nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước. Trình tự, thủ tục lập QHXD đô thị trước đây rất phiền hà gồm 5 loại dự án là : Luận chứng kinh tế – kĩ thuật (TEO), tổng mặt bằng, QHXD đợt đầu, quy hoạch chi tiết ti lệ 1/1000 – 1/2000 và dự án quy hoạch xây dựng ti lệ 1/500, nay đã được cải tiến rút lại chỉ còn hai loại dự án là quy hoạch chung (QHC) và quy hoạch chi tiết (QHCT).
Quy hoạch chung được lập cho phạm vi toàn bộ lãnh thổ đô thị, gồm 2 nội dung là định hướng phát triển đô thị (15 – 20 năm) và mặt bằng sử dụng đất đai (5 – 10 năm), làm cơ sở cho việc lập các quy hoạch chi tiết và các quy hoạch chuyên ngành.
Quy hoạch chi tiết và quy hoạch chuyên ngành cụ thể hóa các quy định của quy hoạch chung và làm cơ sở để giới thiệu địa điểm, cấp chứng chi quy hoạch, lập các dự án đầu tư, giao đất và cấp giấy phép xây dựng.
Quy hoạch xây dựng chi tiết ti lệ 1/500 được thực hiện cho các khu xây dựng tập trung, khi chủ đầu tư đã được xác định.
Trong những năm qua, tính pháp lí của các dự án quy hoạch được duyệt đã được khẳng định thông qua việc công bố các dự án quy hoạch kèm theo các Điều lệ quản lí quy hoạch xây dựng đô thị.
Các phương pháp thiết kế QHC và QHCT đã được đổi mới, đặc biệt là phương pháp quy hoạch chi tiết, trong đó quy định nội dung phân khu rõ ràng bao gồm các khu cấm xây dụng, khu cho phép tồn tại cải tạo và khu phát triển (Zoning ordinance), trên cơ sở đó xác định các chỉ tiêu quản lí cụ thể đối với từng khu đất (giới hạn đất xây dựng, chức năng công trình, hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng, độ cao, tính chất kiến trúc, cảnh quan, bãi đỗ xe, việc đấu nối với mạng lưới hạ tầng kĩ thuật chung v.v…).
Quy hoạch chi tiết đồng thời cũng nghiên cứu bố cục không gian và định hướng kiến trúc đô thị. Việc lập và xét duyệt. Các địa phương cũng đã khẩn trương lập hàng trăm quy hoạch chi tiết sử dụng đất các quận, huyện, phường, trung tâm dô thị và các khu đô thị tập trung. Các khu vực hoặc vùng kinh tế trọng điểm như Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh ; thành phố Hồ Chí Minh – Sông Bé – Biên Hòa – Vũng Tàu ; Huế – Đà Nắng ; Nha Trang – Cam Ranh và nhiều khu kinh tế cửa khẩu đã được lập và chuẩn bị trình duyệt. Các dự án quy hoạch được duyệt đã được các đìa phương tổ chức triển lãm hoặc công bố để dân biết, kiểm tra và thực hiện.
Số vốn lập QHXD từ năm 1992 – 1996 huy động được khoảng vài trăm tỷ đồng trong đó khoảng 100 ti đồng thuộc ngân sách Nhà nưóc. Ngoài ra một khối lượng lớn vốn quy hoạch đã được huy động từ tiền sử dụng đất và vốn đầu tư các chủ dầu tư bỏ ra để lập QHCT các khu xây dựng tập trung theo dự án.
c) Hệ thống các văn bản pháp luật quản lí quy hoạch, đất đai và xây dựng đô thị đã được soạn thảo khá hoàn chinh, góp phần tăng cường công tác quản lí đô thị.
Nhìn chung, các văn bản pháp luật soạn thảo và ban hành trong thời gian qua dêu tập trung vào 4 mục đích chủ yếu là : Đổi mới việc lập, xét duyệt QHXĐ đô thị ; lập lại trật tự, ki cương trong quản lí đất đai và xây dựng trong đô thị ; tăng nguồn thu tài chính để tạo nguồn lực phát triển, đặc điểm là từ quỹ nhà và quỹ đất ; cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực cấp đất, cáp phép xây dựng theo tinh thần Nghị định 38/CP ngày 4/5/1994 của Chính phủ và Nghị quyết VIII của Ban chấp hành trung ương Đảng.
d) Đổi mới việc cải tạo, xây dựng đô thị từ hình thức chia lô, riêng lẻ, manh mún sang hình thức xây dựng tập trung theo các dự án đầu tư bước đầu đã thu được một số kết quả.
Thực hiện chủ trương sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng của Thủ tướng Chính phủ, ƯBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã lựa chọn một số khu đát giao cho các doanh nghiệp xây dựng kinh doanh cơ sở hạ tầng, nâng cao giá trị sử dụng đất trước khi giao đất hoặc cho các tổ chức, cá nhân thuê lại đất để xây dựng các công trình theo quy hoạch.
Các dự án này đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội, chủ yếu là bảo đảm việc xây dựng, cải tạo đô thị theo đúng quy hoạch được duyệt, nhanh chóng hình thành bộ mặt kiến trúc đô thị và làm giảm áp lực xây dựng tại các khu phố cổ, phố cũ ; tạo ra được các nguồn thu lớn từ tiền sử dụng đất, thuế chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thuế doanh thu, thuế lợi tức và các khoản thu lệ phí khác ; thu hút được các nguồn vốn đầu tư cải tạo và xây dựng đô thị.
Để tăng cường biện pháp phát triển đô thị theo các dự án sử dụng quỹ đất tạo vốn cơ sở hạ tầng, vừa qua Nhà nước đã chỉ đạo việc sửa đổi Pháp lệnh 14/10/1994 về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được giao đất, cho thuê đất và Nghị định 18/CP thành Nghị định 85/CP của Chính phủ thi hành pháp lệnh sửa đổi trên.
e) Về kết quả thử nghiệm mô hình tổ chức quản lí kiến trúc – quy hoạch tại các đô thị lđn.
Để tăng cường quản lí kiến trúc quy hoạch đô thị, Thủ tướng Chính phủ đã cho áp dụng thí điểm mô hình kiến trúc sư (KTS) trưởng thành phố tại thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, Bộ Xây dựng cũng đã có Quỹết định số 298/BXD-TCLĐ ngày 24/6/1996 và 83/BXD-TCLĐ ngày 10 tháng 4 năm 1993 ban hành quy chế về hoạt động KTS trưởng tại hai thành phố Hà Nội và HỒ Chí Minh.
Sau hơn 2 năm hoạt động, mô hình KTS trưởng thành phố đã đạt được một số kết quả quan trọng. ‘Quá áp dụng thử nghiệm cho th4y còn một số tồn tại về vấn đề tổ chức, đang dược nghiên cứu hoàn chính mô hình này.
2. Những tồn tại và yếu kém
Tình trạng xây dựng lộn xộn vô phép, sử dụng đất đô thị bừa bãi không theo quy hoạch và pháp luật hiện nay đang chiếm tỉ lệ đáng kể trong các đô thị, nhưng vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn ; đất đô thị là một tài sản quý giá vẫn chưa dược khai thác để tạo nguồn duy trì và phát triển đô thị. Đặc biệt là đất đô thị vẫn chưa được trang bị cơ sở hạ tầng khi sử dụng. Phần lớn các tổ chức, cá nhân sử dụng đất đô thị chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đó là trở ngại lớn nhất trong việc cấp giấy phép xây dựng. QHXD và pháp luật là hai công cụ chủ yếu để quản lí và phát triển đô thị vẫn chưa được tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh. Chất lượng các đồ án QHXD đô thị nhìn chung còn yếu. Pháp luật và QHXD đô thị còn thiếu, bước đầu dã phát huy được hiệu lực nhưng chưa nhiều trong cuộc sống ; cơ chế huy động vốn phát triển đô thị theo dự án còn nhiều vướng mắc ; Thủ tục hành chính trong việc giao đất và cấp giấy phép xây dụng vẫn chưa được cải cách triệt để theo tinh thần Nghị quyết 38/CP của Chính phủ. Đô thị phát triển còn thiếu định hướng chiến lược và mô hình phát triển hướng tới tương lai của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năng lực cán bộ thiết kế quy hoạch, quản lí đô thị nhìn chung còn yếu kém, chưa tương xứng với tầm vóc phát triển đô thị của nước ta trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ; hệ thống cơ quan quản lí quy hoạch xây dựng đô thị cấp cơ sở chưa được thiết lập, trong khi chính quyền các cấp vẫn chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác quản lí hành chính Nhà nước đối với đô thị. Phương thức quản lí đô thị còn chịu ảnh hưởng nhiều của cách làm đối với nông thôn.

Xem thêm: Ban nha Ha Noi co hinh anh