Tiến độ kế hoạch thi công (P2)

2, Sơ đồ thắng góc
Sơ đồ thẳng góc dùng hình thức toạ độ để vẽ. Hoành độ biểu thị chiều dài và lý trình (dùng hectomet – Hm đê biểu thị, tung độ biểu thị thời hạn thi công (dùng năm tháng ngày đê biểu thị). Dùng các đường khác nhau thay thế các loại trình tự khác nhau. Mỗi đường xiên đều phản ảnh tình hình tiến độ kế hoạch của một loại công việc. Thời gian kế hoạch bắt đầu và thời gian kế hoạch thi công, mỗi thời kỳ cụ thể nào đó tiến hành đến vị trí nào đó trên lý trình cho đến cả tốc độ thi công của ké hoạch (tiến độ tháng). Khoảng cách theo phương hướng ngana của dường xiên biểu thị cự ly giữa các trình tự (m), khoảng cách theo hướng đứng biểu thị thời gian cách nhau giữa các trình tự (ngày). Việc thi công tiến lên cân bằng giữa các trình tự biêu hiện thành đường xiên song song với nhau trên bản vẽ tiến độ. Dùng bản vẽ này có thể tiến hành phân tích và điều khiển tiến độ của công trình.
Ưu điểm của sơ đồ thẳng góc là loại trừ được chỗ thiếu sót của sơ đồ ngang, thấy được mối quan hệ tương hỗ của các hạng mục công trình, trình độ chặt chẽ gọn gàng và tốc độ thi công đều rất rõ ràng, tình hình phân bố và thời hạn thi công của công trình nhìn vào là thấy ngay. Nhưng vẫn còn có các thiếu sót sau: (1) Không phản ảnh được một hạng mục nào đó đưa lên hay đẩy lùi sẽ ảnh hưởng đến việc hoàn thành toàn bộ kế hoạch ở mức độ nào đó; (2) Không phản ảnh được công trình nào là chủ yếu, không thể nói rõ ràng công trình nào là mấu chốt; (3) Trình độ tốt xấu của việc sắp đặt kế hoạch rất khó đánh giá; (4) Không thể sử dụng máy tính diện tử và, lượng công tác biên soạn và sửa chữa tiến độ rất lớn.
3. Sơ đồ mạng lưới
Nguyên tắc cơ bản và tính toán tiến độ thi công bằng sơ đồ mạng lưới đã được giới thiệu trong nhiều giáo trình. Hình 9.6 là hình thức thể hiện sơ đồ mạng lưới của một tuần hoàn thi còng đường hầm. Có thể dùng hình thức bản vẽ này để tiến hành phân tích trình tự thi công. Trong hình vẽ có thê thấy rõ, trong mỗi một tuần hoàn, các loại công tác có đặc điểm song song thi hành, yêu cầu phối hợp hữu cơ. Từ trong hình vẽ chúng ta có thể nhận rõ chủ và thứ. thoạt nhìn đã thấy ngay đường dây mấu chốt đi từ bàn giao chuẩn bị đến nô phá và thông gió, như vậy tiện cho việc bảo đảm cung ứng nhân lực vật lực, cho đường dây mấu chốt nhất. Còn một mặt khác, cũng có thể nắm vững công tác trên đường thứ yếu, không đến nỗi do không hoàn thành đê ảnh hưởng đến công tác trên đường mấu chốt.
Tất cả quá trình tuần hoàn đều mạch lạc, thời gian của các hạng mục thi công đều hoàn thành một cách chuẩn xác bảo đảm cho việc tiến hành công tác của cả tuần hoàn một cách thuận lợi. Từ đường dây mấu chốt ta có thời gian hoàn thành một tuần hoàn và chỉ cần cân nhắc thêm một số lượng dự trữ, thì có thể tính ra tiến độ thi công.
So với sơ đồ ngang, sơ đồ thẳng góc, sơ đồ mạng không những chỉ có thể phản ánh tiến độ thi công, mà còn có thể phản ảnh một cách rõ ràng mối quan hệ hợp tác tương hỗ khống chế lẫn nhau xen kẽ và phức tạp giữa các hạng mục thi công. Cho dù là công trình có khối lượng tập trung hay là công trình hình dây, đều có thể dùng sơ đồ mạng để vẽ tiến độ công trình, đồng thời lại có thể thông qua máy tính tiến hành tối ưu hoá kế hoạch thi công, vì thế, đó là một loại hình thức biểu hiện, bản vẽ tiến độ công trình tương đối tiên tiến, càn hét sức đẩy mạnh ứng dụng. Khuyết điểm của nó là không trực quan như sơ đồ thẳng góc.

9.5.2. Biên soạn tiến độ kế hoạch thi công
Tiến độ kế hoạch thi công dựa trên cơ sở phương án thi công đã định và chiếu theo nguyên lý thi công dây chuyền mà biên soạn. Nói chung dựa theo các bước sau để tiến hành:
1. Chia công trình ra mấy công đoạn;
2. Tính toán khối lượng công trình của mỗi công đoạn;
2. Tính toán lượng lao động hoặc lượng kíp máy của các công đoạn;
4. Tính toán chu kỳ sản xuất;
5. Bố trí tiến độ thi công;
6. Kiểm tra và điều chính tiến độ kế hoạch;
7. Kế hoạch yêu cầu về nguyên vật liệu và các biểu đồ khác;
8. Bản vẽ thi công của các đoạn đặc biệt.
Cách làm cụ thể như sau:
1. Chia công đoạn
Lấy ví dụ miệng hầm. Trước tiên thuyết minh phương pháp chia công đoạn. Dựa vào đặc diểm kết cấu công trình của miệng hầm, về nét lớn có thể chia ra làm các công đoạn sau:
(1) Công trình đất đá: Nói chung bao gồm hệ thống thoát nước miệng hầm, thu dọn đất mặt có thể gây sụt lở trên miệng hầm, chặt cây, dọn các khối đá nguy hiểm trên dốc, đào rãnh chắn nước v.v…
(2) Công trình che chắn miệng hầm: bao gồm dốc lên, dốc đáy….
(3) Công trình cửa hầm: bao gồm đào mở đường vào hầm, đào vòm đáy, thi công tường
bên v.v…
(4) Công trình khác: bao gồm trồng cây, trang trí cửa hầm v.v… (xem các hình về che chống và đào miệng hầm phía Nam cửa Đèo Hải Vân, 9.6, 9.7, 9.8, 9.9 đã thể hiện).
Hạng mục trong các công đoạn nói chung chỉ bao gồm công tác thi công hiện trường, không bao gồm công tác đúc sẵn và công tác vận chuyển ở hiện trường v.v… Các công tác ấy tuy có chiếm thời gian thi công, song có thể không cần đưa vào trong tiến độ kế hoạch chung.
Các công đoạn bổ trợ khác như cắm tuyến đo đạc, kiếm tra chất lượng, dưỡng hộ bê tông V.V…. không phải là những hạng mục ghi riêng, nhưng khi bố trí tiến độ thi công cần cân nhắc thêm thời gian để làm các công việc ấy.