Trình tự gây nô và độ lệch thời gian

Trình tự gây nổ và độ lệch thời gian
– Trừ lồ biên nô phá tạo vét nứt ta cần nô trước tiên ra thì trên một mặt đào, trình tự gây nô đều theo lóp gây nổ từ trong ra ngoài. Trình tự gây nô này có thể dùng thời gian chậm lại khác nhau của các kíp nổ chậm để thực hiện, xem hình 2.19.
– Thí nghiệm và nghiên cứu đã chúng minh độ chênh thời gian gây nô giữa các gói thuốc càng nhỏ thì hiệu quả nổ phá càng tốt. Độ chênh thời gian thường dừng là 40 miligiây-t-200 miligiây, cách nổ phá đó được gọi là nổ phá vi sai.
– Lỗ mìn vòng trong sẽ gây nổ trước, lỗ mìn vòng ngoài sẽ gây nổ sau, trình tự đó không thê dáo ngược, nếu không hiệu quả nổ phá phải chịu ảnh hưởng lớn, thậm chí hoàn toàn thất bại. Đê bảo đảm trình tự vòng trong vòng ngoài trước sau gây nổ, trong thực tế sửdụng, thường lựa chọn đê dùng loại kíp miligiây theo thứ tự số. Nhưng cũng cần chú ý, khi nổ phá lỗ sâu, cần chú ý cho độ chênh thời gian gây nổ giữa lỗ tạo rãnh và lỗ bổ trợ hơi tăng lên, để bảo đảm cho trong khoảng độ chênh lệch thời gian đó đá vụn bắn ra hét miệng rãnh không gây tắc nghẽn, tạo mặt thoáng có hiệu quả cho các lỗ bồ trợ nổ sau.
– Lồ mìn trong cùng một vòng cần đồng thời gây nổ (nhất là lỗ tạo rãnh và lỗ biên) đê bảo đám hiệu quả tác dụng chung của lỗ mình trong cùng một vòng.
– Thời gian chậm lại có thể khống ché từ trong lỗ hoặc ngoài lỗ. Khống chế trong lỗ là lắp kíp nô chậm vào gói thuốc trong lỗ để thực hiện nổ phá vi sai. Đó là phương pháp thường dùng, nhưng yêu cầu iắp thuốc phải nghiêm ngặt, nếu sai lệch thì sẽ ảnh hướng đến hiệu quả nô phá. Khống chế ngoài lỗ là lắp kíp nổ chậm ở bên ngoài lỗ. Tại gói thuốc trong lỗ lắp kíp nô ngay đê thực hiện nổ phá vi sai. Việc ấy tiện lợi cho việc lắp thuốc xong tiến hành kiêm tra hệ thống nô chậm. Nhưng kíp nổ trước có thể nổ đứt các đường dây khác tạo nên không nổ hét. ảnh hương hiệu quả nô phá. Do số khoảng của kíp nổ chậm miligiây khá nhiều, và độ chính xác về thời gian chậm lại được nâng cao nên hiện nay người ta thường dùng cách khống chế trong lỗ để nô phá vi sai, mà ít khi dùng cách khống chế bên ngoài, xem hình vẽ 2.12 và 2.13.